Nghị quyết số 27-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định ưu tiên phát triển hai cực tăng trưởng lớn nhất đất nước là vùng đô thị Hà Nội và vùng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời khuyến khích phát triển thêm các thành phố trực thuộc Trung ương, hình thành những cực tăng trưởng mới có khả năng kết nối, dẫn dắt và lan tỏa sự phát triển của các vùng. Mạng lưới cực tăng trưởng quốc gia đang đứng trước bước chuyển quan trọng. Yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng quy mô đô thị, mà còn nâng cao chất lượng tăng trưởng và xác lập vai trò của từng trung tâm trong không gian phát triển quốc gia.
Tại Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày thành phố Sài Gòn-Gia Định mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 2/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Thành phố phải tiếp tục đi trước, mở đường, thử nghiệm, đột phá và lan tỏa”. Đồng thời, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt ra yêu cầu xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một siêu đô thị chiến lược, đa trung tâm, đa cực, có sức cạnh tranh khu vực và quốc tế.
Chỉ ít ngày sau, tại cuộc làm việc với Thành ủy Hà Nội ngày 8/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu Thủ đô tăng cường liên kết vùng, chủ động phối hợp với các bộ, ngành và địa phương, không để tình trạng phát triển riêng lẻ làm giảm hiệu quả đầu tư và sức lan tỏa của Thủ đô.
Mới đây nhất, tại cuộc làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh ngày 28/10/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy tự chủ, nâng cao năng lực thực thi, giải quyết công việc đến kết quả cuối cùng. Đáng chú ý, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu Thành phố tổ chức lại không gian phát triển, mạnh dạn loại bỏ những cấu phần không còn phù hợp, trùng lặp sau hợp nhất; đồng thời khai thác hiệu quả thẩm quyền được trao để giảm thủ tục, giảm chi phí cho người dân và doanh nghiệp.
Xuyên suốt những chỉ đạo ấy là yêu cầu phát huy vai trò của các đô thị đầu tàu trong giai đoạn phát triển mới. Một đô thị lớn không thể chỉ được đánh giá bằng quy mô dân số, giá trị sản xuất hay tốc độ mở rộng không gian xây dựng. Quan trọng hơn, đô thị ấy phải có khả năng hội tụ nguồn lực, tổ chức các trung tâm kinh tế có giá trị cao, nâng cao chất lượng quản trị và tạo sức lan tỏa đối với những địa phương chung quanh.
Hai cực tăng trưởng lớn nhất và sứ mệnh dẫn dắt
Tại Hà Nội, một trong những chuyển biến đáng chú ý là tư duy tổ chức lại không gian đô thị. Thay vì tiếp tục tập trung các hoạt động kinh tế, dịch vụ và dân cư vào khu vực nội đô hiện hữu, Thủ đô đang hướng tới cấu trúc đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm, trong đó các khu vực đảm nhận những chức năng riêng và được kết nối thành một chỉnh thể thống nhất.
Trong cấu trúc ấy, các trung tâm mới không đơn thuần làm nhiệm vụ giãn dân. Mỗi khu vực phải có khả năng tạo việc làm, cung cấp dịch vụ và hình thành những hoạt động kinh tế có sức hấp dẫn riêng. Việc tổ chức lại không gian đô thị cũng là cơ hội để Hà Nội từng bước giải quyết tình trạng quá tải hạ tầng, ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường và sự mất cân đối giữa nơi ở với nơi làm việc.
Trao đổi với Báo Nhân Dân, đồng chí Vũ Đại Thắng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, cho biết Nghị quyết số 27-NQ/TW vừa đặt ra trách nhiệm của Thủ đô đối với sự phát triển chung của vùng và cả nước, vừa mở ra cơ hội đổi mới mô hình phát triển, khai thác hiệu quả các nguồn lực và hình thành những động lực tăng trưởng mới.
Với vị thế trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, cùng lợi thế về giáo dục, khoa học, công nghệ, văn hóa và dịch vụ chất lượng cao, Hà Nội có điều kiện đảm nhận vai trò trung tâm tri thức, sáng tạo và cung cấp các dịch vụ hiện đại cho vùng phía bắc.
Tuy nhiên, phát huy vai trò cực tăng trưởng đòi hỏi Thủ đô phải vượt ra ngoài tư duy phát triển trong phạm vi địa giới hành chính. Đây cũng là tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại cuộc làm việc với Thành ủy Hà Nội ngày 8/7/2026, trong đó nhấn mạnh yêu cầu tăng cường liên kết vùng, khắc phục tình trạng phát triển riêng lẻ làm giảm hiệu quả đầu tư và sức lan tỏa của Thủ đô.
Khi các trung tâm công nghiệp tại Bắc Ninh, Thái Nguyên, Hưng Yên, Hải Phòng ngày càng phát triển, những hoạt động nghiên cứu, thiết kế, đào tạo, chuyển giao công nghệ và dịch vụ chuyên môn của Hà Nội có thể tạo thêm giá trị cho các địa phương chung quanh. Ngược lại, sự phát triển của những trung tâm sản xuất trong vùng cũng mở rộng thị trường, tạo nhu cầu mới đối với các hoạt động dịch vụ và đổi mới sáng tạo của Thủ đô.
Mối quan hệ bổ trợ ấy cho thấy vai trò cực tăng trưởng lớn nhất phía bắc của Hà Nội không chỉ thể hiện ở quy mô kinh tế, mà còn ở khả năng kết nối, dẫn dắt và mở rộng cơ hội phát triển cho cả vùng.
Ở phía nam, Thành phố Hồ Chí Minh đang đứng trước cơ hội tái cấu trúc không gian phát triển với quy mô đặc biệt lớn sau khi hợp nhất với Bình Dương và Bà Rịa-Vũng Tàu.
Nếu trước đây, các hoạt động tài chính, thương mại, công nghiệp, nghiên cứu và dịch vụ cảng biển được tổ chức trên những địa bàn hành chính khác nhau, thì nay những chức năng ấy có điều kiện được kết nối trong một cấu trúc đô thị thống nhất.
Khu vực trung tâm hiện hữu phát huy thế mạnh tài chính, thương mại và dịch vụ; không gian Bình Dương trước đây có nền tảng công nghiệp và đô thị; khu vực Bà Rịa-Vũng Tàu giữ lợi thế về kinh tế biển và dịch vụ cảng biển.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để những khu vực ấy không chỉ cùng nằm trong một đơn vị hành chính, mà thực sự trở thành các trung tâm có sự phân công chức năng, bổ trợ cho nhau và tạo ra giá trị gia tăng từ quá trình hợp nhất.
Theo Thạc sĩ, Kiến trúc sư Sầm Minh Tuấn, Giám đốc Viện Nghiên cứu Thiết kế Đô thị thuộc Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn quốc gia, Thành phố Hồ Chí Minh cần được nhìn nhận đồng thời ở ba cấp độ: Đầu tàu tăng trưởng quốc gia; hạt nhân liên kết không gian kinh tế phía nam; cửa ngõ kết nối nền kinh tế Việt Nam với các thị trường, dòng vốn, công nghệ và mạng lưới sản xuất quốc tế.
Từ góc độ quy hoạch, ông Sầm Minh Tuấn cho rằng thành phố cần phát triển theo mô hình siêu đô thị đa cực, đa tâm, đa tầng, trong đó các trung tâm sản xuất, tài chính, nghiên cứu và dịch vụ có sự phân công rõ ràng, tránh phát triển phân tán, trùng lặp chức năng.
Cùng quan điểm, Tiến sĩ Huỳnh Thế Du, chuyên gia kinh tế, giảng viên Chính sách công tại Đại học Fulbright Việt Nam, cho rằng Thành phố Hồ Chí Minh cần chuyển từ tư duy phát triển một đô thị lớn sang tư duy tổ chức không gian kinh tế mở. Vai trò đầu tàu không thể chỉ được đo bằng tốc độ tăng trưởng của thành phố, mà còn bằng khả năng tạo ra thị trường cho doanh nghiệp trong vùng, nâng cao năng suất, chất lượng việc làm và thu nhập của người dân.
Quy mô GRDP năm 2025 của Thành phố Hồ Chí Minh sau khi mở rộng không gian phát triển đạt khoảng 3 triệu tỷ đồng, tương đương 23,5% GDP cả nước. Quy mô kinh tế lớn tạo ra lợi thế đặc biệt, nhưng cũng đặt ra yêu cầu phải nâng cao hiệu quả tổ chức và quản trị đô thị.
Đây là vấn đề được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặc biệt lưu ý tại cuộc làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh về tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị ngày 28/10/2026. Việc tổ chức lại không gian phát triển sau hợp nhất phải đi đôi với rà soát những cấu phần trùng lặp, nâng cao năng lực điều hành và giải quyết hiệu quả các vấn đề thực tiễn của người dân, doanh nghiệp.
Đối với một siêu đô thị, điều đó có nghĩa là các trung tâm sản xuất, dịch vụ, nơi ở và những thiết chế xã hội phải được phát triển trong một cấu trúc thống nhất. Không gian mới chỉ thực sự mang lại lợi thế khi người dân có điều kiện tiếp cận việc làm, trường học, bệnh viện và các dịch vụ thiết yếu; doanh nghiệp giảm được chi phí hoạt động và những chức năng kinh tế giữa các khu vực được kết nối hiệu quả.
Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, hai cực tăng trưởng lớn nhất đất nước đang đứng trước yêu cầu vượt lên vai trò trung tâm kinh tế đơn thuần, trở thành những vùng đô thị có khả năng tổ chức nguồn lực, tạo lập giá trị mới và dẫn dắt sự phát triển của các địa phương chung quanh.
Sức sống mới của những trung tâm động lực truyền thống
Bên cạnh hai đô thị đầu tàu, mạng lưới đô thị quốc gia còn có những trung tâm động lực với chức năng và bản sắc phát triển riêng.
Ở phía bắc, Hải Phòng tiếp tục khẳng định vị trí quan trọng trong vùng đồng bằng sông Hồng. Sau khi mở rộng không gian hành chính, thành phố có điều kiện tổ chức lại các khu vực đô thị, công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp công nghệ cao, biển và hải đảo theo mô hình đa cực, đa trung tâm.
Hải Phòng định hướng phát triển năm không gian, bốn vùng kinh tế-xã hội và năm trục động lực. Trong đó, các đô thị hạt nhân giữ vai trò trung tâm dịch vụ, những khu vực công nghiệp, nông nghiệp và biển, đảo phát triển theo chức năng phù hợp.
Từ một đô thị cảng truyền thống, Hải Phòng đang hướng tới mô hình trung tâm đô thị đa chức năng, có năng lực cạnh tranh quốc tế, đồng thời phát huy vai trò cửa ngõ giao thương và cung cấp dịch vụ cho cả vùng phía bắc.
Dọc miền trung, Đà Nẵng đang hình thành cấu trúc phát triển mới sau khi hợp nhất với Quảng Nam. Thành phố có diện tích khoảng 11.860 km², dân số hơn 3,06 triệu người, với không gian trải dài từ biển đến miền núi và biên giới.
Việc mở rộng địa giới tạo điều kiện tổ chức lại các trung tâm chức năng, trong đó khu vực phía bắc phát huy thế mạnh đô thị trung tâm, dịch vụ, du lịch và công nghệ; khu vực phía nam, với hạt nhân là Khu kinh tế mở Chu Lai, trở thành một cực phát triển công nghiệp, dịch vụ và đô thị quan trọng.
Theo đồng chí Phan Thái Bình, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng, Chu Lai có nhiều dư địa thu hút các dự án quy mô lớn và nhà đầu tư chiến lược, góp phần tạo thêm động lực phát triển cho khu vực phía nam thành phố.
Đáng chú ý, cách tổ chức không gian mới của Đà Nẵng không chỉ nhằm mở rộng quy mô kinh tế, mà còn tạo sự cân bằng giữa các khu vực. Phía bắc đảm nhận những chức năng đô thị trung tâm; phía nam mở rộng các hoạt động sản xuất và dịch vụ; phía tây gắn với không gian sinh thái, văn hóa và kinh tế miền núi.
Quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075 được phê duyệt ngày 21/10/2026 định hướng phát triển theo mô hình chuỗi đô thị đa cực, đa trung tâm. Đây là cơ sở để thành phố phát huy vai trò đô thị biển hiện đại và cực tăng trưởng của vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
Nếu Đà Nẵng hướng tới mô hình đô thị biển đa chức năng, Huế lựa chọn con đường phát triển dựa trên bản sắc đô thị di sản.
Bài toán của Huế là mở rộng không gian phát triển, nâng cao chất lượng cuộc sống, nhưng vẫn bảo tồn được những giá trị văn hóa, cảnh quan và cấu trúc đô thị đã hình thành qua nhiều thế kỷ.
Theo đồng chí Lê Trí Thanh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Huế, địa phương định hướng phát triển đô thị trên cơ sở tôn trọng hệ thống di tích, cảnh quan sông, đầm phá, rừng và các không gian sinh thái đặc thù.
Thành phố xác định ba cụm đô thị động lực gồm đô thị trung tâm, Phong Điền và Chân Mây. Trong đó, đô thị trung tâm giữ vai trò văn hóa, di sản, du lịch, y tế chuyên sâu, giáo dục và dịch vụ chất lượng cao; Phong Điền phát triển công nghiệp, dịch vụ; Chân Mây gắn với kinh tế biển và các hoạt động kinh tế mới.
Việc phân định chức năng giúp Huế mở rộng không gian phát triển mà không gia tăng quá mức áp lực lên khu vực di sản. Đây cũng là cách để giá trị văn hóa trở thành bản sắc riêng và lợi thế cạnh tranh của đô thị.
Ở đồng bằng sông Cửu Long, Cần Thơ giữ vai trò trung tâm vùng về thương mại, dịch vụ, giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ. Trong điều kiện đồng bằng chịu tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu, sụt lún và ngập lụt, phát triển Cần Thơ không chỉ là mở rộng không gian xây dựng, mà còn phải nâng cao năng lực thích ứng và cung ứng các dịch vụ chất lượng cao cho toàn vùng.
Những hướng phát triển khác nhau của Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế và Cần Thơ từ khi có Nghị quyết 27-NQ/TW cho thấy một mạng lưới đô thị mạnh không nhất thiết được hình thành từ những trung tâm có mô hình giống nhau. Chính sự khác biệt về chức năng, khi được kết nối hiệu quả, sẽ tạo nên khả năng bổ trợ và sức cạnh tranh chung.
Những thành phố mới và khát vọng trở thành cực tăng trưởng
Cùng với những trung tâm động lực đã định hình, năm 2026 ghi nhận sự xuất hiện của ba thành phố trực thuộc Trung ương mới: Đồng Nai, Quảng Ninh và Bắc Ninh.
Tại Đồng Nai, sự thay đổi về địa vị hành chính mở ra cơ hội tổ chức lại một không gian phát triển rộng lớn, kết hợp các trung tâm công nghiệp, đô thị, dịch vụ, nông nghiệp và những đầu mối giao thông quan trọng.
Đồng chí Võ Minh Trung, Phó Giám đốc Sở Tài chính thành phố Đồng Nai, cho biết, địa phương xác định lợi thế trong giai đoạn mới không chỉ nằm ở quy mô công nghiệp hay vị trí địa lý, mà quan trọng hơn là khả năng kết nối, tích hợp và khai thác hiệu quả các nguồn lực.
Theo định hướng tại Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 21/7/2026 của Bộ Chính trị, Đồng Nai được xây dựng thành đô thị sân bay, đô thị ven sông, đô thị đa trung tâm, đa mục tiêu, phát triển xanh, thông minh; hướng tới vai trò cực tăng trưởng đa chức năng của vùng Đông Nam Bộ và cả nước.
Thành phố định hướng phân công chức năng giữa các trung tâm đô thị. Biên Hòa tiếp tục giữ vai trò trung tâm đô thị lớn; Long Thành phát triển đô thị sân bay và các dịch vụ quốc tế; Nhơn Trạch ưu tiên đô thị hiện đại, đô thị ven sông; Trảng Bom phát triển đô thị gắn với công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Các trung tâm mới ở khu vực phía bắc được nghiên cứu hình thành để khai thác dư địa phát triển và tạo sự phân bố hợp lý về dân cư, việc làm.
Đáng chú ý, đô thị sân bay Long Thành được kỳ vọng hình thành một không gian kinh tế, đô thị mới, với các trung tâm thương mại, tài chính, hội nghị, triển lãm, giáo dục, y tế và đổi mới sáng tạo. Sân bay vì thế không chỉ là công trình giao thông mà còn có thể trở thành hạt nhân tổ chức những chức năng đô thị hiện đại.
Trong khi đó, sông Đồng Nai được định hướng trở thành trục sinh thái, văn hóa, cảnh quan và phát triển đô thị. Thành phố nghiên cứu chỉnh trang các khu vực ven sông, phát triển công viên, không gian công cộng và những công trình dịch vụ phù hợp, đồng thời bảo đảm quyền tiếp cận không gian ven sông của cộng đồng.
Định hướng này cũng phù hợp với chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại cuộc làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Đồng Nai ngày 18/5/2026 về phát huy vai trò của sông Đồng Nai trong tổ chức không gian sinh thái, văn hóa và đô thị.
Cùng với đó, thành phố nghiên cứu phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD), tổ chức các trung tâm dân cư, thương mại và dịch vụ tại những khu vực có lợi thế kết nối. Mục tiêu đến năm 2030 nâng tỷ lệ đô thị hóa lên 65%, đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng không gian sống và các dịch vụ thiết yếu.
Từ một trung tâm công nghiệp lớn, Đồng Nai đang hướng tới mô hình cực tăng trưởng đa chức năng, trong đó các đô thị được tổ chức theo lợi thế riêng và kết nối thành một mạng lưới thống nhất.
Ở phía đông bắc, Quảng Ninh lại có cấu trúc không gian đặc biệt. Trong Kết luận số 20-KL/TW ngày 7/4/2026, Bộ Chính trị đồng ý chủ trương thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương, đặt ra yêu cầu tổ chức lại không gian phát triển theo hướng tích hợp đô thị, biển, đảo, biên giới và di sản.
Trao đổi với Báo Nhân Dân, đồng chí Quản Minh Cường, Bí thư Thành ủy Quảng Ninh, nhấn mạnh yêu cầu sắp xếp, định vị rõ từng tiềm năng, nguồn lực để nâng cao giá trị gia tăng, chuyển những lợi thế sẵn có thành năng lực cạnh tranh mới.
Theo định hướng của địa phương, Hạ Long phát huy vai trò trung tâm đô thị, du lịch và dịch vụ; Quảng Yên phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo gắn với cảng biển và logistics; Vân Đồn gắn với kinh tế biển, du lịch nghỉ dưỡng; Móng Cái tập trung vào thương mại, logistics và giao thương qua biên giới.
Quảng Ninh cũng nghiên cứu, thu hút nhà đầu tư chiến lược phát triển cảng biển nước sâu khu vực Con Ong-Hòn Nét, đồng thời thúc đẩy mô hình cửa khẩu thông minh Móng Cái-Đông Hưng.
Với cấu trúc đa trung tâm, Quảng Ninh có điều kiện khai thác những lợi thế bổ trợ giữa các khu vực, nâng cao vai trò trung tâm kinh tế biển, cửa ngõ giao thương quốc tế và cực tăng trưởng của vùng đông bắc.
Nếu Quảng Ninh định hình vị thế trên nền tảng kinh tế biển, biên giới và di sản, Bắc Ninh đang hướng tới mô hình đại đô thị công nghiệp, dịch vụ và công nghệ cao trong mạng lưới vùng Thủ đô.
Theo đồng chí Lương Văn Nghiệp, Phó Giám đốc Sở Tài chính thành phố Bắc Ninh, với diện tích khoảng 4.718 km², dân số khoảng bốn triệu người, Bắc Ninh quy mô kinh tế đứng thứ ba vùng đồng bằng sông Hồng và thứ năm cả nước. Thành phố được định vị là một cực tăng trưởng quan trọng, trung tâm công nghiệp, đô thị, dịch vụ, thương mại và logistics của vùng.
Ngày 23/7/2026, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch chung đô thị Bắc Ninh. Theo định hướng quy hoạch, thành phố phát triển theo mô hình đa cực, gồm ba phân vùng, bốn hành lang phát triển và sáu cụm trung tâm động lực.
Trong đó, hệ thống hạ tầng kết nối vùng giữ vai trò quan trọng, với Cảng hàng không quốc tế Gia Bình, các tuyến đường Vành đai 4, Vành đai 5, đường kết nối sân bay Gia Bình với Hà Nội và các trung tâm đô thị, công nghiệp, cùng những tuyến đường sắt và mạng lưới logistics.
Phó Giám đốc Sở Xây dựng thành phố Bắc Ninh Trần Xuân Đông cho biết, Bắc Ninh phát triển đô thị hướng tới tầm nhìn một đại đô thị văn minh, hiện đại, giàu bản sắc Kinh Bắc, với những trung tâm chức năng được tổ chức hợp lý.
Bên cạnh nền tảng công nghiệp, Bắc Ninh đang hướng tới hình thành những không gian đô thị, dịch vụ, giáo dục và nghiên cứu có khả năng thu hút chuyên gia, kỹ sư và lao động chất lượng cao.
Tuy nhiên, điểm đáng chú ý trong định hướng phát triển của Bắc Ninh không chỉ là mở rộng không gian đô thị hay xây dựng thêm hạ tầng.
Theo Sở Công Thương thành phố, Bắc Ninh xác định bước chuyển từ một địa điểm đặt nhà máy sang hình thành hệ sinh thái công nghiệp, áp dụng tiêu chí lựa chọn dự án theo hướng sử dụng ít đất, ít lao động, nhưng có giá trị gia tăng, vốn đầu tư và trình độ công nghệ cao.
Quy mô công nghiệp lớn là nền tảng để Bắc Ninh phát triển thành một cực tăng trưởng. Nhưng việc nâng cao vai trò trong mạng lưới kinh tế vùng còn phụ thuộc vào khả năng chuyển từ gia công, lắp ráp sang những công đoạn có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn.
Sự ra đời của Đồng Nai, Quảng Ninh và Bắc Ninh với vị thế thành phố trực thuộc Trung ương mở rộng mạng lưới cực tăng trưởng của đất nước. Tuy nhiên, địa vị hành chính mới chỉ là điều kiện. Vai trò thực sự của mỗi cực tăng trưởng phải được khẳng định qua năng lực tổ chức không gian đô thị, tạo lập giá trị và đóng góp vào sự phát triển chung của vùng.
Mở đường cho những cực tăng trưởng tương lai
Trong khi các thành phố mới đang từng bước khẳng định vị thế, một số địa phương khác cũng đang chuẩn bị những điều kiện để trở thành cực tăng trưởng trong tương lai. Khánh Hòa là một trong số đó.
Ngày 20/10/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2007/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch chung đô thị Khánh Hòa đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075, định hướng xây dựng tỉnh trở thành đô thị loại I, thành phố trực thuộc Trung ương và cực tăng trưởng quan trọng của vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
Theo đồng chí Lê Minh Tiến, Phó Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Khánh Hòa, quy hoạch xác định cấu trúc đô thị đa cực, đa trung tâm, gồm hai phân vùng phát triển, ba cực động lực và bốn hành lang phát triển.
Trong đó, cực động lực phía bắc gắn với Vân Phong, phát huy lợi thế kinh tế biển, công nghiệp và dịch vụ; cực động lực trung tâm gồm Nha Trang, Cam Lâm, Cam Ranh, tập trung những chức năng hành chính, dịch vụ, tri thức và điều phối; cực động lực phía nam gồm vùng đô thị Phan Rang và vùng kinh tế phía nam, phát triển các hoạt động kinh tế xanh, văn hóa, du lịch và năng lượng sạch.
Nha Trang được xác định là đô thị hạt nhân, kết nối chuỗi trung tâm phát triển ven biển. Cách tổ chức này hướng tới khai thác thế mạnh riêng của từng khu vực, đồng thời tạo sự thống nhất trong cấu trúc không gian toàn tỉnh.
Đối với Khánh Hòa, mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương không đơn thuần là phát triển các đô thị hiện hữu, mà còn là tổ chức hài hòa mối quan hệ giữa đô thị ven biển với các khu vực nông thôn, miền núi và không gian sinh thái.
Dù Quy hoạch chung đô thị đã được phê duyệt, Khánh Hòa vẫn cần tiếp tục đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định để hiện thực hóa mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương. Điều quan trọng là xây dựng được một cấu trúc đô thị có chức năng rõ ràng, sức cạnh tranh và khả năng dẫn dắt phát triển vùng.
Từ Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đến những trung tâm động lực đã hình thành, các thành phố mới và những đô thị đang chuẩn bị điều kiện vươn lên, hệ thống đô thị quốc gia đang mở ra một giai đoạn phát triển với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng và hiệu quả.
Nghị quyết số 27-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2045, cả nước có ít nhất năm đô thị đạt tầm cỡ quốc tế. Để hướng tới mục tiêu ấy, không chỉ Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh mà các đô thị động lực khác cũng cần phát huy được những chức năng riêng, từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh và kết nối quốc tế.
Một thành phố mạnh có thể tạo ra sức hút về vốn, lao động và thị trường. Nhưng khi những nguồn lực ấy được chia sẻ, khi doanh nghiệp ở các địa phương có thể tiếp cận công nghệ, dịch vụ và cơ hội kinh doanh từ những đô thị đầu tàu, sức mạnh của một cực tăng trưởng mới trở thành động lực của cả vùng.
Phát triển hệ thống đô thị hiện đại, vì thế, không chỉ là xây dựng thêm những thành phố lớn, mà là hình thành một mạng lưới các trung tâm phát triển có khả năng dẫn dắt, bổ trợ và cùng tạo ra những cơ hội tăng trưởng mới cho đất nước.