Lợi thế kinh tế biển đang được Khánh Hòa chuyển hóa thành năng lực sản xuất mới, với công nghiệp đóng tàu xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ và nuôi biển công nghệ cao, từng bước mở rộng động lực tăng trưởng bên cạnh du lịch, dịch vụ. Từ nền tảng công nghiệp điện tử quy mô lớn, Thái Nguyên đang chuyển trọng tâm sang nâng tỷ lệ nội địa hóa, phát triển doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ và gia tăng giá trị trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong khi đó, Đà Nẵng tìm kiếm những dư địa tăng trưởng mới từ công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và kinh tế dữ liệu, hướng tới giảm dần sự phụ thuộc vào các ngành dịch vụ truyền thống.
Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị ngày 3/9/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định: "Liên kết vùng phải tạo sản phẩm đặc sắc, thương hiệu chung, chuỗi giá trị thực chất. Doanh nghiệp là lực lượng tiên phong, Nhân dân là chủ thể; không đánh đổi di sản, bản sắc, môi trường lấy tăng trưởng trước mắt".
Chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt ra yêu cầu phát huy những lợi thế riêng có của từng vùng, từng địa phương, không chỉ dừng lại ở khai thác tiềm năng sẵn có, mà phải tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao, những chuỗi liên kết sản xuất, kinh doanh thực chất và những động lực tăng trưởng bền vững. Trong đó, doanh nghiệp giữ vai trò tiên phong trong đổi mới sáng tạo, tổ chức sản xuất và mở rộng thị trường; người dân không chỉ tham gia mà phải thực sự được thụ hưởng thành quả phát triển.
Đây cũng là tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới. Mỗi vùng có những lợi thế khác biệt về vị trí địa lý, tài nguyên, điều kiện tự nhiên, bản sắc văn hóa, nguồn nhân lực và nền tảng sản xuất. Nhưng lợi thế chỉ thực sự trở thành sức mạnh khi được khai thác bằng tư duy phát triển mới, gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và sự hình thành các chuỗi giá trị có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước, quốc tế.
Từ những vùng kinh tế biển đang chuyển mình, những trung tâm sản xuất công nghiệp từng bước nâng cao hàm lượng công nghệ đến các địa phương phát huy giá trị nông nghiệp, văn hóa, du lịch và những nguồn lực đặc thù, thực tiễn đang cho thấy nhiều hướng đi mới trong khai thác lợi thế cạnh tranh. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để những tiềm năng ấy không chỉ tạo tăng trưởng cho từng địa phương, mà còn trở thành những động lực có sức lan tỏa, đóng góp vào năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của cả vùng và đất nước.
Lợi thế chỉ trở thành động lực khi tạo ra năng lực sản xuất mới
Giữa không gian rộng lớn của vịnh Vân Phong, những con tàu đang thành hình từ các phân đoạn thép có kích thước lớn. Tại Nhà máy đóng tàu HD Hyundai Việt Nam, hoạt động sản xuất diễn ra qua nhiều khu vực, từ gia công những tấm thép nguyên liệu, lắp đặt hệ thống đường ống, sơn các phân đoạn đến vận chuyển xuống ụ khô để lắp ráp thành thân tàu.
Những khối thép lớn được cẩu nâng, đưa vào vị trí và ghép nối theo quy trình kỹ thuật chặt chẽ. Khi thân tàu hoàn thiện, con tàu được đưa ra cảng để tiếp tục lắp đặt thiết bị, kiểm tra và chạy thử trên biển. Bên cạnh những bãi biển và khu nghỉ dưỡng vốn làm nên thương hiệu du lịch Khánh Hòa, hoạt động đóng tàu xuất khẩu đang tạo nên một diện mạo kinh tế khác của địa phương.
Dẫn chúng tôi đi một vòng quanh khu vực đóng tàu ngoài cầu cảng, anh Nguyễn Anh Vĩ, Trợ lý Phòng Hành chính tổng hợp, HD Hyundai Việt Nam, giới thiệu quy trình đóng tàu, từ những tấm thép nguyên liệu đến khi hình thành các phân đoạn lớn và lắp ráp thành con tàu hoàn chỉnh.
Một trong những thiết bị đáng chú ý của nhà máy là cẩu nâng có sức nâng 700 tấn. Việc sử dụng thiết bị có khả năng nâng những phân đoạn lớn giúp doanh nghiệp rút ngắn thời gian thực hiện một công đoạn lắp ráp trong ụ khô, từ khoảng 60 ngày xuống còn hơn 40 ngày.
“Công suất tối đa hiện nay của HD Hyundai Việt Nam khoảng 20 tàu mỗi năm. Doanh nghiệp đang hướng tới mục tiêu nâng lên 23 tàu mỗi năm và dự kiến đầu tư thêm 3 bến cảng để đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất. Những con tàu được đóng tại đây phục vụ khách hàng ở nhiều quốc gia, trong đó có Nhật Bản, Thụy Điển, Đan Mạch, Hy Lạp và Ấn Độ”, anh Vĩ chia sẻ.
Nhưng sự hiện diện của một nhà máy đóng tàu lớn mới chỉ là điểm khởi đầu. Điều quan trọng hơn là khả năng hình thành những ngành công nghiệp hỗ trợ và chuỗi cung ứng ngay tại địa phương.
Theo ông Trần Minh Chiến, Trưởng Ban Quản lý Khu kinh tế và Khu công nghiệp tỉnh Khánh Hòa, tỷ lệ nội địa hóa trong ngành đóng tàu Việt Nam hiện còn thấp, nhiều vật tư, linh kiện chuyên dụng vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài.
Từ thực tế đó, Ban Quản lý đang hướng tới cách xúc tiến đầu tư theo nhu cầu cụ thể của chuỗi sản xuất: làm việc với doanh nghiệp đóng tàu để xác định danh mục vật tư, thiết bị cần mua, tìm hiểu những nhà cung cấp có năng lực và trực tiếp mời gọi họ đầu tư tại địa phương.
“Trong đóng tàu, HD Hyundai Việt Nam là hạt nhân tạo nhu cầu cho các dự án công nghiệp hỗ trợ. Dự án của MIBOO có vốn đầu tư 528,2 tỷ đồng; cùng với dự án của SEJIN đang triển khai tại Ninh Thủy, cho thấy khả năng thu hút những khâu sản xuất chuyên môn hóa vào chuỗi. Đây là các nhà đầu tư nước ngoài. Bước cần phát triển tiếp là tăng cơ hội tham gia thực chất của doanh nghiệp Việt Nam trong cơ khí, dịch vụ kỹ thuật, bảo trì, vận tải và cung ứng vật tư”, ông Chiến nói.
Theo ông Chiến, động lực của Vân Phong phải được xây dựng từ nền tảng hiện có và những năng lực mới cần chuẩn bị. Vân Phong sẽ tập trung vào công nghiệp chế biến, chế tạo, đóng tàu, công nghiệp hỗ trợ; cảng biển và logistics; đồng thời thu hút có chọn lọc công nghệ cao, năng lượng sạch và dịch vụ biển chất lượng cao.
Không chỉ là một định hướng, Vân Phong đã có những hạt nhân sản xuất quy mô lớn. HD Hyundai Việt Nam tạo việc làm cho khoảng 5.400 lao động, gồm cả lao động thầu phụ; trong 9 tháng năm 2026 đã bàn giao 13 tàu. Nhà máy nhiệt điện Vân Phong 1 có công suất 1.320MW, đóng góp vào cung ứng điện cho hệ thống quốc gia.
Không chỉ phát huy năng lực của những cơ sở công nghiệp hiện hữu, Khánh Hòa đang từng bước chuẩn bị thêm không gian phát triển cho các ngành sản xuất mới. Nằm trong Khu kinh tế Vân Phong, Khu công nghiệp Dốc Đá Trắng được quy hoạch trên diện tích 288 ha, thuộc địa bàn xã Vạn Hưng và xã Bắc Ninh Hòa, với lợi thế tiếp giáp Quốc lộ 1, cách tuyến cao tốc Bắc-Nam khoảng 14 km và cảng Nam Vân Phong khoảng 18 km.
Theo Phạm Văn Thái, Trưởng Ban Quản lý Khu công nghiệp Dốc Đá Trắng, Công ty cổ phần Phát triển Khu công nghiệp Viglacera Yên Mỹ, Dốc Đá Trắng được định hướng phát triển thành khu công nghiệp hiện đại, xanh, có hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, ưu tiên thu hút các ngành điện tử, viễn thông, dược phẩm, công nghiệp hỗ trợ, vật liệu mới, năng lượng sạch và công nghiệp chế biến, chế tạo.
Đáng chú ý, yếu tố xanh không chỉ được đặt ra ở việc bố trí cây xanh hay sử dụng năng lượng tiết kiệm. Theo thiết kế, khu công nghiệp có trạm xử lý nước thải tập trung công suất 8.000 m³/ngày đêm, với các công đoạn xử lý được định hướng tự động hóa, từ phân tích nước thải đầu vào đến giám sát thông số đầu ra. Hệ thống cấp nước được đầu tư với công suất thiết kế 9.900 m³/ngày đêm, phục vụ nhu cầu sản xuất của các nhà máy.
Đại diện nhà đầu tư cho biết, mục tiêu không chỉ là tạo quỹ đất thu hút doanh nghiệp mà còn hình thành môi trường sản xuất có tính liên kết, trong đó các nhà máy có thể sử dụng chung hạ tầng, dịch vụ hỗ trợ và từng bước tham gia chuỗi cung ứng. Khi kết nối với hệ thống cảng biển và logistics của Vân Phong, khu công nghiệp được kỳ vọng góp phần mở rộng năng lực sản xuất, thu hút các ngành có giá trị gia tăng cao và tạo thêm động lực phát triển công nghiệp cho Khánh Hòa.
Từ thực tiễn chuyển mình của nhiều doanh nghiệp, ông Nguyễn Long Biên, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa nhấn mạnh, mục tiêu của tỉnh là chuyển lợi thế biển thành năng lực sản xuất, dịch vụ và cạnh tranh thực chất; hình thành các chuỗi giá trị kết nối cảng biển, logistics, công nghiệp, năng lượng, du lịch và nuôi biển công nghệ cao với thị trường trong nước, quốc tế. Cùng với tăng trưởng kinh tế, tỉnh chú trọng nâng cao chất lượng việc làm, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, bảo đảm phát triển lâu dài, bền vững.
Ở Lào Cai, lợi thế vùng nguyên liệu nông, lâm sản đang được kết nối với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ.
Việc khánh thành Nhà máy chế biến gia vị Sơn Hà, vốn đầu tư 286 tỷ đồng tại Cụm công nghiệp Yên Hợp, cùng với khởi công Dự án sản xuất gỗ ván ép Lào Cai, vốn đầu tư 160 tỷ đồng, công suất thiết kế 200.000 mét khối mỗi năm, là những bước đi cụ thể nhằm hình thành năng lực chế biến gắn với vùng nguyên liệu.
Theo Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai Nguyễn Thành Sinh, địa phương chú trọng gắn các vùng sản xuất với doanh nghiệp chế biến, hệ thống cửa khẩu và thị trường tiêu thụ, từng bước nâng giá trị hàng hóa thay vì chỉ cung cấp nguyên liệu thô.
“Với nông nghiệp, tỉnh định hướng phát triển sản xuất hàng hóa tập trung, sinh thái, hữu cơ, tuần hoàn, gắn vùng nguyên liệu với sơ chế, chế biến, truy xuất nguồn gốc và tiêu thụ. Những ngành hàng như chè, quế, dược liệu, gỗ, rau quả và sản phẩm đặc hữu cần được tổ chức theo chuỗi có doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia”, ông Nguyễn Thành Sinh chia sẻ.
Tại Hà Tĩnh, quá trình chuyển đổi được đặt trên nền tảng những ngành công nghiệp quy mô lớn đã hình thành, với Khu kinh tế Vũng Áng giữ vai trò hạt nhân.
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh Nguyễn Trọng Hiếu cho biết, địa phương định hướng phát triển các cụm liên kết ngành dựa trên 4 trụ cột: luyện kim và cơ khí chế tạo sau thép; sản xuất ô-tô, xe điện và công nghiệp hỗ trợ; năng lượng; cảng biển và logistics.
Từ nền tảng sản xuất thép, Hà Tĩnh hướng tới phát triển cơ khí, gia công kim loại, chế tạo linh kiện và thiết bị phục vụ công nghiệp ô-tô, năng lượng, xây dựng. Các dự án ô-tô, xe điện và công nghiệp công nghệ cao được kỳ vọng tạo thêm thị trường cho doanh nghiệp sản xuất linh kiện, phụ tùng và cung ứng dịch vụ kỹ thuật.
Nếu Lào Cai hướng tới nâng giá trị nông, lâm sản bằng chế biến sâu, thì Hà Tĩnh tìm cách phát triển những ngành sản xuất tiếp nối trên nền công nghiệp luyện kim. Thép không chỉ là sản phẩm cuối cùng của một nhà máy, mà còn có thể trở thành nguyên liệu đầu vào cho cơ khí chế tạo, công nghiệp ô-tô và các ngành sản xuất thiết bị.
Tăng trưởng không chỉ bằng quy mô, mà bằng công nghệ và giá trị gia tăng
Chín tháng năm 2026, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên tăng 11,24%, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 23,23%, kim ngạch xuất khẩu đạt 30,38 tỷ USD. Những con số phản ánh quy mô và tốc độ phát triển của một địa phương có công nghiệp điện tử giữ vai trò chủ lực.
Tuy nhiên, đằng sau quy mô sản xuất và xuất khẩu lớn là bài toán về phần giá trị thực sự được giữ lại trong nền kinh tế địa phương.
Theo ông Nguyễn Linh, Uy viên Ban thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên, giá trị gia tăng giữ lại trên địa bàn chưa tương xứng với quy mô sản xuất, trong khi số doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng còn ít.
Để thay đổi thực trạng này, Thái Nguyên xác định hướng chuyển dịch từ gia công, lắp ráp sang những công đoạn có hàm lượng công nghệ cao hơn trong điện tử, bán dẫn và thiết bị số; đồng thời phát triển công nghiệp hỗ trợ, kết nối doanh nghiệp trong nước với các tập đoàn có vốn đầu tư nước ngoài.
Khu công nghệ số tập trung Yên Bình đã được khởi công tháng 7/2026, là một bước chuẩn bị hạ tầng cho hướng phát triển mới.
Địa phương đặt mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 180 doanh nghiệp của tỉnh tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó khoảng 9 đến 18 doanh nghiệp trở thành nhà cung ứng cấp một.
Nếu Thái Nguyên đặt trọng tâm vào nâng giá trị gia tăng trên nền công nghiệp điện tử hiện hữu, thì Đà Nẵng đang tìm kiếm những động lực mới từ các ngành công nghệ số.
Theo Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng Hồ Kỳ Minh, 9 tháng năm 2026, tổng sản phẩm trên địa bàn ước tăng 10,31% so với cùng kỳ, trong đó quý III tăng 11,83%. Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn đạt khoảng 88.000 tỷ đồng, tăng 42,25%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thu hút đạt 681,55 triệu USD, gấp khoảng 2,87 lần cùng kỳ.
Tuy nhiên, thành phố cũng nhìn nhận quy mô công nghiệp chưa tương xứng với tiềm năng; tỷ trọng kinh tế số năm 2025 mới đạt 12,11% tổng sản phẩm trên địa bàn, còn khoảng cách lớn so với mục tiêu 27% năm 2026.
Từ thực tế đó, thành phố xác định chuyển đổi số và công nghiệp công nghệ số là một trong những nhóm động lực tăng trưởng mới.
“Thành phố ưu tiên thu hút đầu tư vào vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, trung tâm dữ liệu; đã có 07 trung tâm dữ liệu, thu hút dự án phòng thí nghiệm kết hợp sản xuất quy mô nhỏ công nghệ đóng gói tiên tiến vi mạch bán dẫn với vốn khoảng 1.800 tỷ đồng”, ông Hồ Kỳ Minh cho hay.
Bên cạnh công nghiệp bán dẫn, Đà Nẵng đang mở thêm hướng phát triển từ dữ liệu. Thành phố đã ban hành Đề án thí điểm Sàn giao dịch dữ liệu ở cấp địa phương, hướng tới khai thác dữ liệu như một nguồn lực cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và cung ứng dịch vụ.
Chia sẻ với phóng viên Báo Nhân Dân, ông Hồ Kỳ Minh xác định, thời gian tới, thành phố tập trung chuyển đổi số hộ kinh doanh, thương mại điện tử, kinh tế dữ liệu để nâng tỷ trọng kinh tế số lên từ 30% GRDP trở lên vào năm 2030; phát triển công nghiệp trí tuệ nhân tạo, sản xuất rô-bốt, thiết bị bay không người lái.
Tại Hải Phòng, yêu cầu nâng chất lượng tăng trưởng được đặt ra ngay trong cách lựa chọn dự án đầu tư.
Theo Sở Tài chính thành phố Hải Phòng, địa phương xác định trọng tâm phát triển công nghiệp công nghệ cao và công nghệ số, gồm chip bán dẫn, điện tử-tin học, cơ khí chính xác, rô-bốt và thiết bị tự động hóa. Thành phố đồng thời định hướng nâng cấp các ngành công nghiệp truyền thống như đóng tàu, dệt may theo hướng ứng dụng công nghệ cao, tự động hóa và giảm phát thải.
Một thay đổi đáng chú ý là chuyển từ ưu tiên quy mô vốn sang xem xét hàm lượng công nghệ, hoạt động nghiên cứu, triển khai, cam kết chuyển giao công nghệ và yêu cầu bảo vệ môi trường.
Đến hết tháng 9/2026, Hải Phòng có khoảng 1.889 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký khoảng 53,9 tỷ USD.
Tại Quảng Trị, một hướng chuyển dịch đáng chú ý là phát triển công nghiệp chế biến sâu, từng bước nâng giá trị tài nguyên thông qua những ngành sản xuất có yêu cầu kỹ thuật cao.
Tháng 8/2026, Công ty cổ phần Vietnam Wafer khởi công giai đoạn một Nhà máy sản xuất vật liệu thạch anh siêu tinh khiết tại Khu công nghiệp Quán Ngang. Theo định hướng của doanh nghiệp, dự án là bước khởi đầu trong quá trình hình thành chuỗi vật liệu phục vụ công nghiệp bán dẫn, kết nối nguồn nguyên liệu trong nước với công nghệ chế biến sâu và thị trường quốc tế.
Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị Hoàng Nam nhấn mạnh: “Mục tiêu của tỉnh là chuyển đổi mô hình từ ‘khai thác tài nguyên’ sang ‘sản xuất dựa trên công nghệ và chuyển đổi số’, làm chủ các công đoạn sản xuất để nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu”.
Từ một địa phương có lợi thế về tài nguyên và năng lượng, Quảng Trị đang hướng tới phát triển các ngành vật liệu mới, công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp công nghệ cao. Tuy nhiên, để những dự án như nhà máy vật liệu thạch anh siêu tinh khiết thực sự tạo ra giá trị mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là thu hút đầu tư, mà còn là tiếp nhận công nghệ, nâng cao năng lực chế biến và hình thành những sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn của thị trường.
Ở Hà Nội, một hướng phát triển khác đang được thúc đẩy là khai thác tiềm năng kinh tế số và chuyển hóa kết quả nghiên cứu khoa học thành sản phẩm có giá trị kinh tế. Theo Sở Tài chính Hà Nội, 6 tháng đầu năm 2026, kinh tế số đóng góp khoảng 17,34% tổng sản phẩm trên địa bàn.
Với lợi thế tập trung các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ, Hà Nội có điều kiện phát triển những ngành kinh tế dựa trên tri thức, dữ liệu và đổi mới sáng tạo. Khu công nghệ cao Hòa Lạc là một trong những nền tảng để thành phố thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng và phát triển các sản phẩm công nghệ.
Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh phải tạo ra giá trị thực chất
Rời những nhà xưởng đóng tàu ở Vân Phong, chúng tôi đến khu sản xuất giống của Công ty trách nhiệm hữu hạn Thủy sản Australis Việt Nam. Từ đây nhìn ra phía biển, những lồng nuôi cá chẽm được bố trí ở vùng nước sâu, cách bờ khoảng ba hải lý.
Giữa không gian mênh mông của vùng vịnh, những lồng nuôi không chỉ là nơi thả cá như phương thức truyền thống. Phía dưới mặt nước là hệ thống lưới được thiết kế cho vùng biển sâu; phía trên, các thiết bị kỹ thuật hỗ trợ việc quản lý, theo dõi và chăm sóc đàn cá. Nghề nuôi biển đang được tổ chức theo một phương thức sản xuất công nghiệp hơn, từ con giống đến nuôi thương phẩm.
Anh Lương Anh Dũng, quản lý hệ thống nuôi trồng của doanh nghiệp, chỉ ra phía biển, nơi những lồng nuôi cá chẽm được bố trí ở vùng nước sâu cách bờ khoảng 3 hải lý. Khác với phương thức nuôi truyền thống ven bờ, mô hình này tổ chức sản xuất theo quy trình khép kín, từ khâu con giống đến nuôi thương phẩm.
Dẫn chúng tôi tham quan hệ thống sản xuất, anh Dũng cho biết các lồng nuôi được đặt tại khu vực nước sâu, có dòng chảy mạnh và môi trường biển ổn định: “Tất cả lồng nuôi đều được thiết kế theo tiêu chuẩn công nghệ hiện đại, có sức chống chịu bão lên tới cấp 12, độ sâu lưới từ 14-15m, nhằm tối ưu tốc độ tăng trưởng của cá và giảm tác động đến môi trường”.
Không chỉ thay đổi vị trí và cấu trúc lồng nuôi, Australis Việt Nam còn ứng dụng công nghệ trong quá trình quản lý và chăm sóc cá.
Theo bà Nguyễn Minh Thư, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Khánh Hòa, với việc đầu tư lồng nuôi hàng nghìn mét khối, sà lan cho ăn tự động, camera dưới nước và hệ thống quản lý tập trung tại vịnh Vân Phong, Australis Việt Nam cho thấy một phương thức sản xuất khác với phần lớn nghề nuôi biển truyền thống.
Các thiết bị và quy trình quản lý tập trung giúp doanh nghiệp có thêm điều kiện kiểm soát môi trường nuôi, theo dõi quá trình tăng trưởng và điều chỉnh việc cung cấp thức ăn cho cá.
Từ phương thức phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm và điều kiện tự nhiên sang quản lý bằng quy trình kỹ thuật, thiết bị và dữ liệu là một hướng phát triển có ý nghĩa đối với kinh tế biển Khánh Hòa.
“Tỉnh hiện cung cấp khoảng 30% con giống thủy sản cho cả nước và đang đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý nghề cá, đồng bộ dữ liệu VNFishbase, triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản điện tử và nhật ký khai thác điện tử”, bà Thư chia sẻ.
Nếu Khánh Hòa ứng dụng công nghệ để thay đổi phương thức nuôi biển, thì Lào Cai đang sử dụng chuyển đổi số để nâng hiệu quả hoạt động thương mại biên giới.
Theo Sở Tài chính tỉnh Lào Cai, nền tảng cửa khẩu số của tỉnh vận hành từ tháng 8/2023, đạt tiêu chuẩn an toàn thông tin cấp độ 3. Các quy trình quản lý hành chính, giám sát phương tiện tại 5 làn xe đã được số hóa. Đáng chú ý, thời gian xử lý phương tiện tại Barie số 1 được duy trì dưới 2 phút mỗi phương tiện.
Lào Cai đang tiếp tục chuẩn bị triển khai Đề án Cửa khẩu thông minh theo Quyết định số 453/QĐ-TTg ngày 18/3/2026. Các hạng mục dự kiến tại Kim Thành và Bản Vược gồm xe tự hành không người lái, máy soi container, cân tải trọng động, camera trí tuệ nhân tạo nhận diện biển số và kết nối mạng 5G, hướng tới khả năng thông quan liên tục.
Những hạng mục này hiện đang trong giai đoạn chuẩn bị triển khai, chưa phải hệ thống đã vận hành đồng bộ. Kết quả xử lý phương tiện tại Barie số 1 cho thấy hiệu quả bước đầu của việc số hóa một công đoạn quản lý. Tuy nhiên, để chuyển đổi số trở thành động lực tăng trưởng, cần tiếp tục đánh giá tác động đến thời gian thông quan toàn bộ, chi phí của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động thương mại.
Tại Quảng Ninh, chuyển đổi số cũng đang được thúc đẩy trong hoạt động thương mại biên giới, với định hướng thí điểm mô hình cửa khẩu thông minh Móng Cái-Đông Hưng. Việc ứng dụng công nghệ và dữ liệu số được kỳ vọng nâng hiệu quả quản lý, tổ chức hoạt động xuất nhập khẩu và phục vụ doanh nghiệp.
Bên cạnh thương mại biên giới, Quảng Ninh đang tìm cách nâng chất lượng tăng trưởng từ ngành du lịch, một trong những thế mạnh nổi bật của địa phương. Chín tháng năm 2026, tỉnh ước đón 18,8 triệu lượt khách, tổng thu du lịch đạt khoảng 56.400 tỷ đồng.
Ở lĩnh vực du lịch, Huế lại tìm kiếm những động lực tăng trưởng mới từ di sản, văn hóa và các sản phẩm dịch vụ sáng tạo.
Ông Lê Trí Thanh, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Huế khẳng định: “Thành phố Huế xác định động lực tăng trưởng mới phải đến từ sự kết hợp giữa giá trị di sản với tri thức, công nghệ và năng lực sáng tạo. Thành phố hướng tới những sản phẩm, dịch vụ có chất lượng, giúp du khách có thêm trải nghiệm, lưu trú lâu hơn và mang lại thu nhập tốt hơn cho doanh nghiệp, người dân địa phương”.
Từ hệ thống di tích, âm nhạc, lễ hội, ẩm thực, áo dài và nghề thủ công, Huế có điều kiện phát triển nghệ thuật biểu diễn, thiết kế thời trang, điện ảnh, nội dung số và các dịch vụ sáng tạo. Đáng chú ý, chuyển đổi số đã tạo thêm những hình thức tiếp cận và trải nghiệm di sản. Các bảo tàng trên địa bàn thành phố đã số hóa hơn 10.000 hiện vật; trải nghiệm thực tế ảo 360 độ được triển khai tại nhiều điểm di tích.
Một trường hợp đáng chú ý là Huế Wonderverse Music Fest 2026, diễn ra từ ngày 30/8 đến 1/9/2026, kết hợp giá trị di sản với âm nhạc, nghệ thuật đương đại và công nghệ trình diễn. Theo số liệu thành phố cung cấp, lễ hội thu hút hơn 300.000 lượt người tham gia các hoạt động và ghi nhận 20 triệu lượt tiếp cận trên các nền tảng trực tuyến.
Trong lĩnh vực ẩm thực, chương trình “Huế - Kinh đô ẩm thực 2026” với chủ đề “Ngày Bún bò Huế”, diễn ra từ ngày 23 đến 26/7/2026, ước thu hút khoảng 48.000 lượt khách; doanh thu du lịch gắn với chương trình ước khoảng 12 tỷ đồng.
Từ một địa phương nổi bật về di sản, Huế đang tìm cách tạo thêm giá trị bằng những sản phẩm văn hóa, dịch vụ và trải nghiệm mới. Những con số về lượng khách tham gia lễ hội, khả năng tiếp cận trên nền tảng số hay doanh thu từ các chương trình ẩm thực cho thấy tiềm năng kinh tế của việc kết hợp di sản với sáng tạo và công nghệ.
Ông Lê Trí Thanh cho biết, thành phố Huế cũng xác định phát triển kinh tế di sản gắn với công nghiệp văn hóa và chuyển đổi số là hướng đi quan trọng để nâng cao chất lượng tăng trưởng. Giai đoạn 2026-2030, thành phố phấn đấu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn bình quân 10-11% mỗi năm; đến năm 2030, kinh tế số chiếm 30% và công nghiệp văn hóa đóng góp 10% tổng sản phẩm trên địa bàn.
Ở một hướng khác, Đà Nẵng đang đặt chuyển đổi xanh và năng lượng trong nhóm động lực tăng trưởng mới.
Theo Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng Hồ Kỳ Minh, thành phố đang triển khai các nhiệm vụ giảm phát thải khí nhà kính, hợp tác với thành phố Sakai của Nhật Bản về định hướng trung hòa các-bon, áp dụng tiêu chí cơ sở lưu trú du lịch xanh và nghiên cứu thí điểm giao dịch tín chỉ các-bon tự nguyện.
Trong lĩnh vực năng lượng, thành phố đang thu hút đầu tư Dự án Nhà máy nhiệt điện khí thiên nhiên hóa lỏng Hòa Ninh giai đoạn một, tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 48.836 tỷ đồng, và tổ hợp điện gió gần bờ kết hợp sản xuất Hydro xanh, amoniac xanh tại vùng biển xã Thăng Trường, với quy mô đầu tư dự kiến khoảng 26.000 tỷ đồng.
Các dự án này đang được xúc tiến, chưa phải năng lực sản xuất năng lượng mới đã đi vào vận hành. Tuy nhiên, cùng với những nhiệm vụ giảm phát thải và phát triển dịch vụ xanh, chúng cho thấy Đà Nẵng đang tìm kiếm thêm dư địa tăng trưởng từ chuyển đổi năng lượng và các ngành kinh tế gắn với yêu cầu phát triển bền vững.
Từ những ụ tàu ở Vân Phong, nhà máy chế biến sâu ở Lào Cai, Hà Tĩnh, Quảng Trị đến công nghiệp điện tử Thái Nguyên, công nghệ cao Đà Nẵng, Hải Phòng hay kinh tế di sản ở Huế, Quảng Ninh, những động lực tăng trưởng mới đang dần hình thành từ chính lợi thế của mỗi địa phương. Điều đáng chú ý không chỉ là sự xuất hiện của những ngành nghề mới, mà là cách các địa phương đang chuyển từ khai thác lợi thế sang tạo dựng năng lực sản xuất, làm chủ công nghệ và nâng cao giá trị gia tăng.
Các chuyên gia cho rằng, động lực tăng trưởng có thể được khơi nguồn từ lợi thế riêng, nhưng sức bật của nó phụ thuộc vào khả năng kết nối với những nguồn lực bên ngoài địa phương. Đánh thức lợi thế là điều kiện cần nhưng quan trọng là phải kết nối những thế mạnh riêng thành chuỗi giá trị và không gian kinh tế thống nhất mới là điều kiện đủ để tạo nên sức mạnh của các vùng. Đó cũng là bước chuyển quan trọng từ phát triển từng địa phương sang phát triển vùng theo tinh thần Nghị quyết 27-NQ/TW.