Ba người ở xóm Voi Đi - Truyện ngắn của TRẦN HỒNG LONG

ND- Xóm Voi Ði nằm trên bờ sông Voi Ði.    Truyền rằng, ngày xưa nơi đây là một rừng bần, có đàn voi tới mấy chục con, len lỏi qua những cây bần để săn mồi. Ði riết rồi đất lún thành sông, nên người ta gọi là sông Voi Ði.

Vào những tháng cuối năm 1974 đầu năm 1975, tình hình chiến sự miền nam vô cùng ác liệt. Mỹ - ngụy như con thú dữ trọng thương, điên cuồng xua quân càn quét các vùng nông thôn, hòng phá vỡ hậu phương của ta, trong đó có xóm Voi Ði. Không biết đánh hơi được gì mà chỉ trong vòng nửa đêm về sáng chúng đã thụt vào xóm Voi Ði 108 trái U bít, làm chết mấy chục thường dân.

Người dân xóm Voi Ði vốn nổi tiếng hiền lành nhân hậu, vậy mà tạo hóa trêu ngươi làm chi trên ba mảnh đời tội nghiệp. Ðó là cô Ðầu Sông, anh Giữa Sông và ông Cuối Sông. Họ có tên, và tên của họ rất đẹp nữa là đằng khác, nhưng họ yêu cầu tôi đừng hài tên của họ ra đây. Có lẽ vì cuộc đời họ có quá nhiều nỗi niềm trắc ẩn, nên tôi căn cứ vào chỗ ở của họ trên con sông Voi Ði mà gọi tên họ vậy.

1. Cô Ðầu Sông

Hồi đó, ngay chỗ cái chòi cô Ðầu Sông ở bây giờ là nhà của một đôi vợ chồng trẻ. Tuy ruộng nương không nhiều nhưng do chí thú làm ăn, họ cũng có chút của ăn, của để. Song cái quý giá nhất của họ chính là cô con gái xinh xắn như một nàng tiên. Hiềm nỗi là cô hơi kém thông minh hơn các bạn cùng trang lứa, lại rất dễ tin người. Có lần đang đi học, một thằng nhãi nhép bảo, ba mầy bị rắn hổ cắn trào đờm ở nhà kìa, cô bèn quăng sách vở chạy về, vừa chạy vừa khóc hu hu. Tới nhà, thấy ba cô đang ngồi ăn cơm, cô mới biết là mình bị gạt. Lần khác, cô đang ngồi chơi chuyền đũa với mấy đứa con gái hàng xóm thì một bợm nhậu xiêu vẹo ngang qua đưa tay chỉ xuống bến sông nói, thằng chõng chết trôi nó bò lên kia kìa. Trong khi mấy đứa kia nạt, nói dóc thì cô mặt mày xanh mét, tay chân run như cua nướng. Cũng có lần má cô sai đi mua gói mì tôm, khi về gặp thằng chết thèm gạt, má mầy kêu cho tao gói mì. Vậy mà cô cũng đưa. Vậy rồi, một ngày kia cô bỗng biến mất khỏi xóm Voi Ði. Má cô, sau nhiều ngày tìm kiếm con khắp đầu trên xóm dưới không thấy, đã hóa điên hóa dại, thường hay bỏ nhà đi lang thang, khi thì tự biết đường về, khi thì lạc sang xóm khác, ba cô phải đi kiếm mấy ngày mới gặp. Rồi có một hôm người ta thấy má cô nằm chết dưới gốc cây bần. Sau cái chết của má cô, ba cô quá đau buồn đã theo ghe xuống miệt Cà Mau đốn củi, mãi không thấy về.

Hơn mười năm sau thì cô trở về cố hương trong sự ngỡ ngàng của cư dân xóm Voi Ði. Ðứng trước căn nhà tan hoang đổ nát của mình, cô lặng thinh không một lời, không một giọt nước mắt. Cô không còn nước mắt để khóc, hay nước mắt của cô đã chảy ngược vào trong tim? Cô dọn dẹp, nhặt nhạnh những thứ còn xài được, dựng lại cái chòi nhỏ và mưu sinh bằng nghề mua bán ba khía dạo. Sáng, chưa rõ mặt người thì cô xách thau lội bộ ra chợ, chừng non cây số, cân ba khía rồi bưng về bán dài dài theo xóm. Khi về thì cô lại thu mình trong căn chòi như con óc mượn hồn. Có bà góa bảo với cô:

- Ðầu Sông à, về với tao, tao nuôi cơm lại cho vài công ruộng làm riêng, chẳng sướng hơn đi bán ba khía bữa đực, bữa cái sao?

Cô lắc đầu:

- Tui hổng tin bà tốt vậy đâu.

Có người bảo:

- Tao bán chịu cho mầy một con heo con, bỏ đó cho nó ăn cơm thừa canh cặn, chừng nào cân mới trả tiền cho tao.

Cô cũng lắc đầu:

- Nửa chừng bà đòi thì tiền đâu tui trả.

Có anh cán bộ tới gặp cô:

- Xã đang có chính sách cho người nghèo vay vốn với lãi suất ưu đãi, chỉ 0,6 phần trăm một tháng thôi, cô làm đơn lên xã tụi tui xét cho vay chút đỉnh mà làm vốn buôn bán.

Cô cũng lại lắc đầu:

- Làm gì có chuyện đó.

Cư dân xóm Voi Ði nhiều người cho rằng cô bị tâm thần. Nhưng có ai biết đâu con chim chỉ một lần bị tên, nhìn thấy cành cây cong cũng sợ. Còn cô? Cô cũng chỉ vì tin người mà để đời mình rơi vào tận cùng của bể khổ.

Hôm đó là một trưa hè, ba má Ðầu Sông đi làm đồng thì một bà người Chà Và ghé nhà xổ ra một đống vải đủ mầu xanh đỏ, làm cho cô bé hoa cả mắt. Bà nói, nếu cô bé thích thì theo bà xuống ghe, bà lấy cho mấy tấm khác còn đẹp hơn nhiều. Cô bé tin là thật nên riu ríu đi theo bà. Mải choáng ngợp trước những tấm vải sặc sỡ, mà chiếc ghe rời bến sông nhà mình tự lúc nào cô bé vẫn không hề biết. Khi đã xem chán chê những tấm vải, cô bé đòi lên nhà thì bà Chà Và nạt, nhà của mầy ở đâu đây mà lên chứ? Cô bé khóc, ông Chà Và dọa, nếu mầy còn khóc nữa thì tao liệng xuống sông cho sấu ăn thịt. Cô bé tịt như thóc. Mấy ngày sau về tới Tân Châu, ông Chà Và đem cô qua Miên bán vào một nhà thổ ở tận Tuol Kok, lấy mấy trăm đô-la. Rồi có một lần cô bị bệnh nặng không thuốc thang, không được đi bệnh viện, thấy cô sắp chết người ta kéo lê cô quăng ra đường. Một người dân Miên tốt bụng nào đó đã đưa cô vào bệnh viện khi thấy cô còn thở thoi thóp. Cô bình phục rất nhanh, chỉ trong nửa tháng được xuất viện. Cô Ðầu Sông vẫn tưởng cô có thể dúi đầu vào ngực cha, úp mặt vào vai mẹ mà khóc, chứ cô đâu ngờ thảm cảnh cũng xảy ra ở quê nhà.

2. Anh Giữa Sông

Xin bạn đừng hiểu nhầm rằng, giữa sông là khoảng giữa của hai bên bờ, mà giữa sông ở đây là khoảng giữa chiều dài của con sông.

Nơi đây có một ngôi nhà khá khang trang. Cột nhà là những cây bạch đàn to đến cả ôm tay trẻ con, đã được ngâm dưới bùn lâu năm, bảo đảm 50 năm nữa mối mọt cũng chưa dám đụng tới, được kê trên những viên táng xanh hẳn hoi, hai mái được lợp bằng tôn giả ngói đỏ chót thể hiện sự sung mãn của chủ nhân giữa một vùng quê còn nhiều khốn khó.

Ðó là nhà của anh Giữa Sông.

Mặc dù được coi là có chút của ăn, của để nhưng đã tròm trèm 40 rồi mà anh Giữa Sông lại chưa lấy vợ lần nào. Chuyện chưa lấy vợ của anh cũng có cái lý của nó. Ba của Giữa Sông là một người chất phát. Mùa mưa thì dắt đôi trâu đi cày mướn hết đồng này tới đồng khác, mùa khô thì dắt trâu đi cộ lúa thuê từ đồng nọ tới đồng kia... để nuôi một vợ và năm con, đứa lớn nhất là Giữa Sông chưa đầy mười tuổi. Rồi trận bão đạn làm chết mấy mươi thường dân vô tội ở xóm Voi Ði hồi cuối năm 1974, trong đó có ba má và hai đứa em trai của nó. Dù ba má nó không kịp trăn trối gì, nhưng nó vẫn biết trách nhiệm của mình là phải thay ông bà nuôi hai đứa em còn lại. Mới đầu nó dắt hai đứa em về nương náu nhà bà nội. Bà nội ở cùng chú thím út, nhà chẳng giàu có gì, lại nay đau mai yếu. Chú thì sợ vợ một cây. Thím chỉ con mèo, bảo đó là con chó thì chú cũng không dám cãi. Hàng ngày nó phải nghe không biết là bao nhiêu câu chửi gần, mắng xa của thím. Giữa Sông thấy đau lòng lắm. Nhiều lần nó định dắt ba đứa em đi về xóm Voi Ði, nhưng nhà cửa đã cháy rụi, xóm làng tan hoang... Rồi hơn một năm sau thì miền nam hoàn toàn giải phóng, anh em Giữa Sông hòa vào dòng người của xóm Voi Ði tìm về quê cũ. Nó dựng lên cái chòi nhỏ đủ để che mưa, che nắng cho ba cái đầu. Cuộc mưu sinh mới trên cả nỗi cùng cực của một kiếp người. Mà cũng ngộ thiệt nghen, cái câu trời sinh voi, sinh cỏ đối với nó đúng hơn bất cứ chỗ nào. Mới hơn mười tuổi đầu nhưng Giữa Sông lại biết làm tất cả mọi nghề mà người dân xóm Voi Ði này biết. Từ móc cua đồng cho tới đặt lờ, giăng lưới, nhấp cá, câu tôm... nó đều làm thành thạo như một chàng trai thực thụ. Chẳng những vậy, mà nó còn là một sát thủ cá tôm nữa là đằng khác. Với đôi mắt tinh tường nó chỉ cần nhìn vào mực nước của con mương là biết liền lươn ở đó nhiều hay ít; chỉ cần nhìn vào những đọt cỏ, ngọn lúa là biết liền cá ở đó ra sao, có bao nhiêu loại, loại nào nhiều, loại nào ít; chỉ cần nhìn vào vệt bùn là biết liền hôm đó móc được bao nhiêu cua. Cái quần xà lỏn của Giữa Sông không lúc nào khô, đôi tay của nó không chỗ nào là không chai sần, đôi chân của nó nước ăn lở lói tùm lum... Nhờ vậy, hai đứa em của nó được ăn no mặc ấm, học hành đàng hoàng.

Có lần em của anh bảo:

- Anh Hai à, tụi em cũng đã lớn rồi. Năm nay học xong lớp chín cũng đã là cao, tụi em sẽ nghỉ học, đi làm cho anh đỡ khổ.

Anh nạt:

- Nghỉ gì mà nghỉ? Thời buổi bây giờ lớp chín nhằm nhò gì. Hai đứa mầy phải học lên đại học cho ba má ở trên trời và tao ở dưới này nở mày nở mặt. Vài năm nữa tụi bây một đứa thành ông kỹ sư, một đứa thành bà bác sĩ, còn tao thì thành anh của ông kỹ sư, anh của bà bác sĩ. Mỗi sáng tao sẽ ra quán ngồi tréo nguẩy uống cà-phê, hút thuốc thơm, bàn chuyện thời sự.

- Nhưng...

- Nhưng cái gì?

- Anh cũng phải lấy vợ... Chứ gồng gánh tụi em hoài sao?

- Ừ hén! Mà tao chỉ lấy người nào biết lo cho tụi bây thôi.

Nhiều cô kháo nhau: Giữa Sông giỏi thì có giỏi thiệt, có điều làm ra bao nhiêu tiền thì lại đổ vô hai cái cục nợ bấy nhiêu, mình có lấy ảnh cũng chẳng được gì, lại tổ cực thêm cái thân. Có cô bạo miệng chọc thẳng: Giữa Sông ơi, chừng nào thành anh của ông kỹ sư, anh của bà bác sĩ thì chống gậy đi kiếm đàn bà góa nghen...

3. Ông Cuối Sông

Ông Cuối Sông đã thất thập cổ lai hy, thuộc hàng xưa nay hiếm, lẽ ra ông phải được hưởng cái cảnh tuổi già vui thú điền viên. Nhưng ngược lại, với đôi tay run rẩy, hai con mắt nhướng lên cụp xuống đan từng cái rổ, cái xịa đổi lấy lon gạo củ khoai, đắp đổi qua ngày.

Nghe nói từ xưa lắm, tổ tiên ông Cuối Sông là những người đầu tiên tới xóm Voi Ði này lập nghiệp, rồi trở thành chủ điền giàu bể trời. Ðất vườn cò bay mệt nghỉ mà vẫn chưa hết của ông. Người ta chỉ biết tới đời ông Cuối Sông vẫn còn thừa hưởng cả năm, sáu mươi công đất hương hỏa. Cưới vợ 15 năm, vợ ông sinh liền tù tì 11 đứa con gái, rồi tịt tới sáu năm sau thì quất cho ông một thằng con cầu tự. Nghe nói, hồi đẻ thằng Cầu Tự ông đãi tiệc miễn phí tới ba ngày, ba đêm. Người ta kéo tới ăn hết sạch năm trâu, ba bò lại còn được cho ổ bánh da lợn tổ bố mang về. Ðồn rằng, có một vị đạo sĩ ở tận vùng Thất Sơn huyền bí vân du ngang qua chép miệng than rằng, sao người ta lại có thể đón nhận điềm dữ trong hoan hỉ như thế được. Không biết vị đạo sĩ tiên đoán đúng sai thế nào, chỉ biết rằng ngay từ nhỏ thằng Cầu Tự đã nghịch ngợm như quỷ. Lớn lên một chút thì cậu Cầu Tự đã trở thành một thằng con bất trị, đất run không sợ, trời gầm không nghe, lời cha mẹ tựa như tiếng chim kêu đầu trên, gà gáy xóm dưới. Cậu học hành mấy năm mà chữ "O" vẫn nói là cái vòng tròn. Cái mà cậu thạo là uống rượu, đánh bài... Khi các bà chị của cậu đi lấy chồng hết cũng là lúc miền nam hoàn toàn giải phóng. Những ngày đầu sống dưới chế độ mới cậu có đỡ hơn chút đỉnh như là bớt uống rượu, ít đánh bài, chắc là để thăm dò, sau thì mèo lại hoàn mèo. Tội nghiệp cho hai vợ chồng ông Cuối Sông.

Vậy rồi, một hôm cậu lại đưa về nhà một tay mua đồ cổ chỉ chỉ, trỏ trỏ.

Ông Cuối Sông hỏi:

- Mầy đã bán hết đồ đạc của ông bà tổ tiên để lại rồi, còn gì để mà bán nữa chứ?

Cậu bình thản:

- Còn chứ ba.

- Còn cái gì?

- Cái nhà.

Nghe vậy, hai vợ chồng ông Cuối Sông ngất xỉu tại chỗ. Khi tỉnh lại thì hai ông bà đã nghe tiếng búa, tiếng đục, tiếng cưa ỳ đùng. Người ta khuân vác, khiêng khẹo mấy chục cây cột gỗ lim, gỗ trắc to đùng, đen mun bóng lưỡng xuống ghe chày. Và cũng khuân luôn cái thân xác héo úa của bà vợ ông ra nhị tỳ. Con trai ông Cuối Sông ôm một bao tiền đi mất, còn ông Cuối Sông thì dựng một cái chòi ở cuối sông... Mấy cô con gái của ông xin rước ông về nhà nuôi. Ông từ chối: Mồ mả ông bà, tổ tiên của tao ở đây, tao không đi đâu hết. Các chị bảo: Ba ở một mình đêm hôm gió máy ai hay ai biết. Ông nói: Chết sớm chừng nào thì tốt chừng nấy.

Ðoạn kết

Như tôi đã nói ở phần trên, tạo hóa trêu ngươi - mà đã trêu người thì ắt có sự an bài. Người dân xóm Voi Ði kể như vầy: Một hôm cô Ðầu Sông đi bán ba khía, tới cái chòi của ông Cuối Sông thì thấy ông nằm ngay đơ dưới đất. Cô bèn kéo ông lên cái chõng tre thoa dầu, cạo gió, giật râu... Rồi lại bẻ một càng ba khía chấm chấm vào môi ông thì thấy miệng ông chép chép, hai con mắt từ từ mở ra, nước mắt ông theo đó mà chảy thành dòng... Anh Giữa Sông đang ngồi ăn cơm trong nhà, nhìn ra đường thấy cô Ðầu Sông ì ạch cõng ông Cuối Sông trên lưng từng bước khó nhọc, mồ hôi nhễ nhãi, anh bèn buông chén cơm chạy ra đỡ lấy ông già.

- Cõng ổng đi đâu vậy?

- Về chòi của tui.

- Ðể tui cõng tiếp cho.

Kể từ hôm ấy, người ta thấy anh Giữa Sông thường hay tới lui nhà cô Ðầu Sông để thăm nom ông già - Phải vậy hôn ta? Rồi một ngày kia, người ta lại thấy anh Giữa Sông chèo ghe tam bản đến rước cô Ðầu Sông với ông Cuối Sông về nhà mình. Chừng một năm sau thì nhà anh Giữa Sông có tiếng oe oe của con nít.

Có thể bạn quan tâm