Ban Sử-Ðịa-Văn ra đời ngày 2-12-1953 thì ngày 8-12-1953, tôi đã có trong biên chế của Ban. Ban Sử-Ðịa-Văn gồm năm nhà khoa học có tên tuổi, trong đó có ba đảng viên là sáng lập viên: Trần Huy Liệu, Tôn Quang Phiệt, Minh Tranh và hai nhà khoa học ngoài Ðảng là Trần Ðức Thảo và Vũ Ngọc Phan.
Lúc đầu, trong bản Dự thảo nghị quyết thành lập, Ban đã ghi Ủy viên Ban là Hoài Thanh. Nhưng do Hoài Thanh bận làm việc ở bên Hội Nhà văn nên xin không tham gia và đề cử Vũ Ngọc Phan.
Ban trù bị thành lập (gồm Trần Huy Liệu, Tôn Quang Phiệt, Minh Tranh) nhất trí là nên có hai người ngoài Ðảng tham gia, cho dù đây là Ban Khoa học trực thuộc Ban Bí thư T.Ư Ðảng, và được chấp nhận.
Lúc đầu, vì điều kiện hoạt động còn rất hạn chế ở Tân Trào (Tuyên Quang), ATK Việt Bắc nên các nhà sử học Trần Huy Liệu, Tôn Quang Phiệt, Minh Tranh chỉ mới nghĩ đến thành lập một Ban Nghiên cứu về lịch sử. Nhưng qua tiếp xúc với các ngành có liên quan như tuyên huấn, giáo dục, văn học và một số nhà sử học, văn học, địa lý nên mới quyết định trình lên T.Ư Ðảng bản Ðề nghị thành lập Ban Nghiên cứu Sử - Ðịa - Văn.
Ban vừa ra đời tháng 12-1953 thì tháng 6-1954 đã cho ra mắt độc giả Tập san Sử ký - Ðịa lý - Văn học, gọi tắt là Tập san Sử - Ðịa - Văn. Tập san số 1 có tên đề là Khoa học lịch sử và công tác cách mạng.
Bài xã luận do Trưởng ban Trần Huy Liệu viết cũng với đầu đề là Khoa học lịch sử và công tác cách mạng biểu lộ rõ tư duy của tác giả là phải đưa khoa học lịch sử lên trước trong điều kiện lúc đó.
Tháng 8-1954, Tập san Sử - Ðịa - Văn số 2 ra mắt độc giả để phục vụ nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ đẩy mạnh cách mạng phản phong.
Ðến tập san số 3 ra tháng 10-1954 thì đổi tên thành Tập san Nghiên cứu Văn - Sử - Ðịa là cơ quan ngôn luận của Ban Nghiên cứu Văn học - Lịch sử - Ðịa lý.
Bởi Ban Nghiên cứu Lịch sử - Ðịa lý - Văn học mới được Trung ương Ðảng ra quyết định đổi tên thành Ban Nghiên cứu Văn học - Lịch sử - Ðịa lý, với tôn chỉ, mục đích hoạt động của Ban cũng như của tập san là: "Nghiên cứu lịch sử, văn học, địa lý Việt Nam (phục vụ cho việc) biên soạn những sách về lịch sử, địa lý và văn học theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lê-nin để đẩy mạnh việc giáo dục tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế cho nhân dân và thanh niên Việt Nam".
Là người trực tiếp chịu trách nhiệm in ấn, những ngày còn ở chiến khu, mỗi kỳ đưa in ở Nhà in Tiến Bộ, đóng tại Ghềnh Quýt, gần thị xã Tuyên Quang, tôi thường phải lội qua hơn hai mươi đoạn suối, đi bộ từ Tân Trào đến Sơn Dương, từ đó đến Ghềnh Quýt.
Từ số 1 (6-1954) đến số 48 (1-1959) - số cuối cùng, kết thúc sự tồn tại và cống hiến của mình, tập san đã đăng tải được 446 bài, trong đó có 332 luận văn nghiên cứu và 114 bài thông tin khoa học.
Các luận văn nghiên cứu đều nhằm đề xuất những vấn đề khoa học cần giải quyết thuộc ba lĩnh vực văn, sử, địa; sưu tầm, xác minh, công bố tư liệu; nghiên cứu, thảo luận, phê bình các công trình khoa học; sơ kết, tổng kết các vấn đề khoa học.
1. Về văn học, có các vấn đề như: Phân chia thời kỳ văn học sử Việt Nam; đánh giá các tác phẩm văn học dân tộc, văn học cổ điển Việt Nam, văn học dân gian Việt Nam; nghiên cứu ngôn ngữ trong văn học và ngôn ngữ, văn học các dân tộc thiểu số; thảo luận, sơ kết, tổng kết những vấn đề như: Có liệt những bài văn yêu nước do người Việt trước kia viết bằng chữ Hán vào văn học dân tộc không? Ngôn ngữ có thuộc thượng tầng kiến trúc không?...
2. Về sử học, có các vấn đề như: Dân tộc Việt Nam hình thành từ bao giờ? Tiêu chuẩn để phân định thời kỳ lịch sử ở Việt Nam; phân định giai đoạn lịch sử cận đại? Ðánh giá sao cho đúng những anh hùng dân tộc trong lịch sử; vấn đề ruộng đất trong lịch sử Việt Nam; phong trào nông dân trong xã hội phong kiến Việt Nam; chế độ chiếm hữu nô lệ ở Việt Nam, trong đó có vấn đề phương thức sản xuất châu Á; giai cấp công nhân Việt Nam; giai cấp tư sản Việt Nam...
3. Về địa lý, có các vấn đề như: Nhận rõ đối tượng của địa lý kinh tế; tìm hiểu lịch sử âm lịch và dương lịch; đặt cơ sở vật hậu học ở Việt Nam; nghiên cứu ảnh hưởng giữa thiên nhiên và sinh hoạt xã hội; phân chia khu vực địa lý Việt Nam; tính chất phức tạp và bất thường của khí hậu miền bắc Việt Nam.
Một số chuyên đề kể trên được công bố thành các chuyên san. Có chuyên san đề xuất, giải trình vấn đề cần thảo luận; có chuyên san sơ kết hay tổng kết khoa học. Cả ba lĩnh vực văn, sử, địa đều có nhiệm vụ nhận xét, đánh giá, phản biện khoa học.
Tuy vậy, những luận văn này chưa nhiều và cũng mới có tính chất mở đường, như: Về văn thì viết về Tự lực văn đoàn, Phạm Quỳnh...; về sử thì viết về chống những quan điểm xuyên tạc về Cách mạng Tháng Tám năm 1945; nhận xét về bộ Việt Nam Sử lược của Trần Trọng Kim... Về địa thì phê phán thuyết Man-tuýt trong địa lý học...
Tập san còn rất coi trọng nhiệm vụ thông tin khoa học, đã có tới 114 bài thông tin khoa học đã được đăng tải. Ngoài các thông tin chung trong nước và ngoài nước, còn là thông tin từng nước về các ngành khoa học này.
Lực lượng chủ công viết cho tập san từ khi ở Tân Trào đến khi về Hà Nội, về sử là Trần Huy Liệu, Minh Tranh, Tôn Quang Phiệt; về văn là Vũ Ngọc Phan, Trần Ðức Thảo cùng với một số nhà nghiên cứu trong Ban Văn - Sử - Ðịa như: Phạm Trọng Ðiềm, Hướng Tân, Văn Tạo, Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Phương, Trần Văn Nguyên, Võ Văn Nhung, Nguyễn Ðổng Chi, Nguyễn Khắc Ðạm, Văn Tân, Nguyễn Lương Bích, Nguyễn Hồng Phong, Trần Văn Giáp, Trần Văn Khang, Thành Thế Vỹ, Hoa Bằng, Ðặng Việt Thanh, Mai Hanh, Phan Gia Bền, Nguyễn Việt, Nguyễn Danh Phiệt, Dương Kinh Quốc...
Với chủ trương đoàn kết, tập hợp lực lượng tới mức cao nhất trong điều kiện kháng chiến cho phép, tập san đã nhận được sự cộng tác của các nhà khoa học trên toàn miền bắc, như GS Trần Văn Giàu, GS Ðào Duy Anh, nhà Hán học Lê Thước, nhà ngôn ngữ học Nguyễn Lân; các nhà nghiên cứu khoa học, và nhà văn như: Lê Tùng Sơn, Ngô Quân Miện, Trần Thanh Mại, Trịnh Ðình Rư, Trương Hữu Quýnh, Lý Trần Quý, Phan Cự Ðệ, Vân Lăng, Trương Chính, Hoàng Ngọc Phách, Phong Châu, Nông Ích Thùy, Chương Thâu, Hằng Phương, Lê Trọng Khánh, Ninh Viết Giao, Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Ðức Ðàn, Nghiêm Xuân Hòe, Hồ Tuấn Niêm, Tư Huyền, Nguyễn Lộc... cùng một số học giả Liên Xô (trước đây) như N.D.Andreev, F.N.Nikilov, A.L.Gan-pê-rin, Liu-blin-xcai-a, Pot-pê-lôp và Xa-bli-ốp-xki; các học giả Trung Quốc, như Ðới Dật, Tiễn Bá Tán, Hứa Sư Khiêm, Hồ Thằng, Phạm Nhược Ngu, Cao Do Hi, Sa Anh... và một số học giả ở các nước Romania, Triều Tiên, Tiệp Khắc, Ba Lan...
Tập san cũng công bố các bản dịch về các công trình nghiên cứu văn, sử, địa của các nước kể trên. Như vậy số tác giả, cộng tác viên văn học cũng đông đảo không kém gì sử học.
Nhìn chung, với thời gian khoảng năm năm, trong hoàn cảnh kháng chiến chống thực dân Pháp và những năm khó khăn sau khi hòa bình lập lại ở miền bắc, tập san (với tư cách là nguyệt san) đã xuất bản liên tục 48 số, chất lượng luôn được nâng cao, đã đóng góp đáng kể vào việc biên soạn các công trình lịch sử Việt Nam, lịch sử văn học Việt Nam, địa lý Việt Nam; vào việc biên soạn các giáo trình giảng dạy của các trường đại học và trung học phổ thông; vào việc bồi dưỡng kiến thức cho đông đảo cán bộ và nhân dân yêu thích văn, sử, địa.
Tập san cũng chuyển một số ấn phẩm sang Trung Quốc, Liên Xô, qua đó đến các nước khác, kể cả Nhật Bản, Pháp và vào miền nam Việt Nam.
Tới năm 1959, tập san đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình để chuyển thành Tạp chí Nghiên cứu lịch sử của Viện Sử học và Tạp chí Nghiên cứu văn học của Viện Văn học ngày nay.
Giáo sư VĂN TẠO