Xuất khẩu thủy sản vượt 2,5 tỷ USD

Tin vui đến với lao động nghề cá cả nước: Ðến ngày 5-12 này, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đã vượt 2,5 tỷ USD. Ðây là một trong những chỉ tiêu kế hoạch quan trọng Nghị quyết Ðại hội toàn quốc lần thứ IX của Ðảng đã giao cho ngành thủy sản.

Nhìn lại chặng đường hơn 45 năm qua, kể từ ngày thành lập, thủy sản từ một lĩnh vực sản xuất nhỏ bé, nghèo và lạc hậu, nay đã phát triển trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước có tốc độ tăng trưởng cao, có tỷ trọng GDP ngày càng lớn, có vị trí xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân. Trong những năm 60 của thế kỷ trước tổng sản lượng thủy sản ở miền bắc chỉ đạt trên dưới 200.000 tấn (trong đó cả khai thác hải sản và nuôi trồng thủy sản đều xấp xỉ 100.000 tấn), đến năm 1976 - năm đầu thống nhất đất nước, tổng sản lượng thủy sản đạt khoảng 840.000 tấn (trong đó khai thác hải sản 670.000 tấn, nuôi trồng thủy sản 170.000 tấn), kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 1980 chỉ đạt khoảng 11 triệu rúp-đô la. Ðến nay, tổng sản lượng thủy sản đã đạt 3,3 triệu tấn (khai thác hải sản 1,750 triệu tấn, khai thác nội địa 190.000 tấn, nuôi trồng thủy sản 1,360 triệu tấn) và kim ngạch xuất khẩu thủy sản đã vượt 2,5 tỷ USD, thủy sản đã chiếm 21% GDP nông - lâm - ngư nghiệp và hơn 4% GDP trong nền kinh tế quốc dân.

Có được các kết quả nêu trên, trước hết là do Ðảng và Chính phủ đã sớm cho phép ngành thủy sản đổi mới cơ chế quản lý. Từ năm 1981, thủy sản đã là ngành kinh tế đầu tiên được vận dụng cơ chế kinh tế thị trường trong sản xuất, kinh doanh; được phép thoát ly cơ chế bao cấp để thử nghiệm cơ chế "tự cân đối, tự trang trải", xuất khẩu trực tiếp các sản phẩm thủy sản vào thị trường "khu vực 2" thu ngoại tệ để mua máy móc, vật tư, thiết bị đầu tư trở lại cho sản xuất.

Sau một phần tư thế kỷ hoạt động trong cơ chế thị trường, ngành thủy sản đã từng bước trưởng thành. Ðáng chú ý là, sau khi chính sách đổi mới của Ðảng được thực hiện trong cả nước, từ 1986, thị trường xuất khẩu thủy sản được mở rộng và tăng trưởng với tốc độ rất nhanh. Sự mở rộng thị trường đã kích thích sản xuất phát triển. Có thể nói, thị trường xuất khẩu thủy sản đã mở đường, hướng dẫn cho quá trình chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu nghề trong khai thác hải sản trên biển. Trong các năm từ 1981 trở lại đây, các nghề sản xuất trên biển đã hướng theo các sản phẩm có giá trị xuất khẩu. Cơ cấu sản phẩm khai thác phục vụ xuất khẩu đã liên tục tăng từ khoảng 5% trong những năm trước đây lên 30 - 35% trong thời gian gần đây.

Thị trường xuất khẩu thủy sản đã là động lực, kích thích sự phát triển nuôi trồng thủy sản, và nuôi trồng thủy sản trở thành hướng đi chủ yếu cho sự chuyển đổi các vùng diện tích sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả thành những vùng sản xuất nguyên liệu lớn cho chế biến thủy sản xuất khẩu. Ðịnh hướng đúng đắn có tính chiến lược đó được khẳng định bằng Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP ngày 15-6-2000 của Chính phủ về một số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Từ kết quả đó, năm 2000 xuất khẩu thủy sản vượt một tỷ USD, năm 2002 vượt hai tỷ USD, và năm 2005, mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng ngành thủy sản đã hoàn thành xuất sắc chỉ tiêu kế hoạch của Nghị quyết Ðại hội toàn quốc lần thứ IX của Ðảng: kim ngạch xuất khẩu đạt và vượt 2,5 tỷ USD.

Ðể có được kết quả 2,5 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu, các năm qua và năm 2005 này, những người lao động nghề cá đã nỗ lực hết mình vượt qua khó khăn, gian khổ trong lao động sản xuất; những thiệt hại, thất bát do thiên tai, bão, lũ, nắng hạn; những khó khăn, thử thách khắc nghiệt trên thương trường qua các vụ kiện bán phá giá cá tra, cá ba sa; kiện bán phá giá tôm trên thị trường Mỹ; các rào cản kỹ thuật về dư lượng kháng sinh, hóa chất... tồn dư trong sản phẩm trên thị trường EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản...

Nhìn lại chặng đường đã qua với bao khó khăn, thách thức trong những lúc cam go nhất, càng nhận thức sâu sắc về vai trò, vị trí cốt tử của đội ngũ doanh nhân trên thương trường. Cùng với hơn bốn triệu lao động nghề cá trong khai thác và nuôi trồng thủy sản, đội ngũ doanh nhân ngành thủy sản thật sự lớn mạnh, trở thành lực lượng nòng cốt, tiên phong trong những thời điểm khó khăn nhất. Nhiều doanh nhân, nhiều thương hiệu đã khẳng định được uy tín của mình trên các thị trường lớn, như: Seaprodex, Minh Phú, Kim Anh, Saota (fimex), Phú Cường, Camimex, Cafatex, Angifish, Vĩnh Hoàn, Sea Minh Hải, Sea Sài Gòn, Seaspimex, Sea Ðà Nẵng, Sea Hà Nội,...

Ðến nay, cả nước đã có 439 nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu, trong đó có 171 doanh nghiệp được xếp vào danh sách 1 xuất khẩu vào EU, 300 doanh nghiệp áp dụng quy trình quản lý chất lượng sản phẩm theo HACCP, đủ tiêu chuẩn xuất khẩu vào thị trường Mỹ, 222 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu sản phẩm vào Hàn Quốc, 295 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu vào Trung Quốc... Những con số đó cho thấy sự trưởng thành của công nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản Việt Nam cả về công nghệ, kỹ thuật và trình độ quản lý. Các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu Việt Nam đã đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, đã tiếp cận, đáp ứng các yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm khắt khe nhất của thị trường quốc tế.

Bên cạnh vai trò nòng cốt của đội ngũ doanh nhân, lực lượng khoa học - công nghệ đã có đóng góp to lớn. Từ những năm đầu của thập kỷ 80 của thế kỷ trước, công nghệ sinh sản tôm sú nhân tạo đã được du nhập và phát triển thành công ở miền trung, sau đó nhân ra cả nước, tạo tiền đề cho phong trào nuôi tôm phát triển, là cơ sở để có được nguồn nguyên liệu chủ yếu cho chế biến, xuất khẩu thủy sản. Giá trị từ tôm xuất khẩu đến nay chiếm hơn 50% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản. Ðồng thời với việc làm chủ công nghệ sinh sản nhân tạo tôm sú, các nhà khoa học thủy sản đã nghiên cứu cho đẻ thành công nhiều giống, loài thủy sản quý hiếm, như cá mú, cá giò, cà dìa, cá bớp, cá chẽm, cá rô phi, rô đồng, cá lóc, cua biển, ốc hương, sò, vẹm, tôm càng, tôm he, tôm rảo,... Những thành tựu khoa học này là nền tảng để phát triển các sản phẩm thủy sản xuất khẩu.

Cùng với sự nỗ lực trong nội bộ ngành thủy sản, có được kết quả 2,5 tỷ USD xuất khẩu còn có sự phối hợp, giúp đỡ của các bộ, ban, ngành ở trung ương, sự chỉ đạo đúng đắn, cụ thể, sâu sát của các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp địa phương, cơ sở. Chỉ bốn tỉnh vùng bán đảo Cà Mau đã có doanh số thủy sản xuất khẩu là một tỷ USD, trong đó riêng Cà Mau đã đóng góp hơn 500 triệu USD, chiếm 20% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước.

Trong điều kiện của một nước chậm phát triển, cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn, lạc hậu, việc xuất khẩu thủy sản đạt 2,5 tỷ USD, sản phẩm thực phẩm bảo đảm chất lượng cao, được tiêu thụ ở các nước công nghiệp phát triển là thành tựu rất đáng tự hào. Ðấy là kết quả của sự dũng cảm đi tiên phong trong cơ chế thị trường, sẵn sàng đương đầu vượt qua thử thách; là bản lĩnh, là trí tuệ của những người lao động nghề cá dám nghĩ, dám làm; biết khiêm nhường học hỏi những bài học khắc nghiệt nhất từ cơ chế thị trường trong thời kỳ hội nhập; biết phát huy sức mạnh đoàn kết, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ trong và ngoài ngành, trong và ngoài nước; biết vận dụng hài hòa các quy luật kinh tế cơ bản, lấy lợi ích của người lao động làm động lực cho phát triển.

Ðây là thành tích rất có ý nghĩa mà những người lao động nghề cá chào mừng Ðại hội toàn quốc lần thứ X của Ðảng, và là hành trang quý để tiếp tục phấn đấu cho sự nghiệp công nghiệp hóa nghề cá nước nhà, trước mắt là hoàn thành thắng lợi các chỉ tiêu kế hoạch của thời kỳ 2006 - 2010, trong đó xuất khẩu thủy sản sẽ đạt bốn tỷ USD vào năm 2010.

Có thể bạn quan tâm