Xuất hiện xu hướng “nữ hóa” trong di cư

NDĐT – Theo số liệu thống kê mới nhất, xét trong tổng số người di cư ở độ tuổi 15-59 thì hiện nữ chiếm tỷ trọng 52,4% và nam chiếm tỷ trọng 47,6%. Cụ thể, số lượng người di cư là nữ chiếm tỷ lệ 17,7% so với tổng dân số nữ, trong khi số nam di cư chiếm tỷ lệ 16,8% so với tổng dân số nam trong độ tuổi này.

Ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng Cục trưởng Tổng cục Thống kê phát biểu khai mạc hội nghị. (Ảnh: Trung Hưng)
Ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng Cục trưởng Tổng cục Thống kê phát biểu khai mạc hội nghị. (Ảnh: Trung Hưng)

Kết quả trên một lần nữa khẳng định nhận định về xu hướng “nữ hóa” trong di cư đã được nhắc đến trong cuộc Điều tra di cư Việt Nam năm 2004 và các cuộc điều tra khác trước đó.

Đây cũng là một trong số các số liệu vừa được công bố tại Hội nghị công bố kết quả Điều tra di cư nội địa quốc gia năm 2015 do Tổng cục Thống kê và Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) tổ chức ngày 16-12 tại Hà Nội.

Điều tra di cư nội địa quốc gia năm 2015 được thực hiện theo Quyết định số 1067/QĐ-TCTK ngày 11-11-2015 của Tổng Cục trưởng Tổng cục Thống kê trên phạm vi 20 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đại diện cho sáu vùng kinh tế-xã hội và hai thành phố lớn là Thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Đây là cuộc điều tra di cư nội địa quốc gia lần thứ hai, sau cuộc điều tra đầu tiên vào năm 2004 do Tổng cục Thống kê thực hiện.

Các nguyên nhân chính quyết định di cư

Thống kê tại hội thảo cho thấy, Việt Nam đã trải qua quá trình di cư mạnh mẽ trong ba thập kỷ qua. Người di cư trong vòng năm năm qua chiếm 13,6% tổng dân số toàn quốc. Có khoảng 50% người di cư trong nhóm tuổi 15-59 được điều tra sinh ra ở nông thôn chuyển về thành thị sinh sống, cao gấp 20 lần con số ở chiều ngược lại.

Lý giải cho nguyên nhân này, ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng Cục trưởng Tổng cục Thống kê cho rằng, tình trạng phát triển không đồng đều đã dẫn đến sự chênh lệch ngày càng gia tăng về thu nhập và mức sống giữa nông thôn và thành thị, cuộc sống của nhiều người dân, đặc biệt là các hộ thuần nông và người dân ở các vùng có điều kiện tự nhiên không thuận lợi, gặp nhiều khó khăn.

Chính tình trạng chênh lệch này đã tạo nên lực đẩy chủ yếu cho dòng người di cư từ nông thôn ra thành phố và đến các khu công nghiệp để tìm việc làm. Tính quy luật này thể hiện rõ rệt ở các dòng di chuyển lao động từ nông thôn đến các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai…, và các vùng kinh tế trọng điểm khác.

Bên cạnh đó, theo PSG, TS Lưu Bích Ngọc, Viện Dân số và các vấn đề xã hội, ngoài các nguyên nhân đơn thuần về kinh tế, quyết định di cư có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác như nguyên nhân đan xen giữa kinh tế và xã hội, nguyên nhân xã hội và nguyên nhân liên quan đến môi trường.

Tuy nhiên, cũng giống như kết quả Điều tra di cư Việt Nam 2004, cuộc điều tra di cư nội địa 2015 cũng cho thấy, các vấn đề kinh tế vẫn là lý do hàng đầu dẫn đến quyết định di cư. Có gần 30% người di cư được hỏi cho biết họ di chuyển là do “Tìm được việc làm ở nơi mới”; 11,5% di cư để có “điều kiện làm việc tốt hơn”; 11,9% di cư để “thuận tiện cho công việc”; 12,6% di cư để “cải thiện đời sống”. Ngoài ra, “gần người thân”, “đi học”, và “kết hôn” cũng là những lý do cơ bản khiến nhiều người di cư (tương ứng là 23,5%; 18,8%; và 12,9%).

Hoàn thiện chính sách về các vấn đề di cư

Xuất hiện xu hướng “nữ hóa” trong di cư ảnh 1

Kết quả điều tra di cư nội địa năm 2015 được kỳ vọng sẽ tạo nên những thay đổi cần thiết trong chính sách và thực tiễn nhằm mang đến nhiều lựa chọn hơn cho người di cư. (Ảnh: Trung Hưng)

Theo ông Lâm, trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa của Việt Nam, di cư nội địa có vai trò quan trọng tới biến động dân số và do đó có quan hệ chặt chẽ với nhiều vấn đề phát triển kinh tế, xã hội và môi trường.

Chính vì vậy, cuộc điều tra này nhằm thu thập thông tin về di cư nội địa ở cấp quốc gia, cấp vùng kinh tế-xã hội, và ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, giúp chính phủ, các bộ, ngành, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế và người dân hiểu được tác động tích cực và thách thức của di cư nội địa, đồng thời phục vụ xây dựng chính sách phát triển kinh tế-xã hội và chính sách đối với người di cư, đặc biệt là những người di cư nghèo và dễ bị tổn thương.

Bà Astrid Bant, Trưởng đại diện UNFPA cho rằng, bằng chứng từ các cuộc điều tra và nghiên cứu về di cư ở Việt Nam đã cho thấy các tác động tích cực, to lớn và lâu dài tới những người di cư và gia đình họ tại cả nơi đi và nơi đến.

Dẫu vậy, Việt Nam sẽ cần có thêm nhiều bằng chứng khoa học hơn nữa về mối liên hệ giữa di cư và phát triển nhằm phục vụ cho vận động và nâng cao nhận thức của các nhà hoạch định chính sách về các vấn đề di cư, cũng như hỗ trợ người di cư để bảo đảm các quyền lợi cơ bản và nhu cầu an sinh xã hội của họ, Trưởng đại diện UNFPA nhấn mạnh.

Trong bối cảnh Việt Nam đang chứng kiến việc giảm sinh nhanh với tổng tỷ suất sinh (TFR) đã ở dưới mức sinh thay thế, di cư nội địa trở thành một yếu tố quan trọng trong quá trình biến động dân số cả nước, do đó các chuyên gia cũng khuyến nghị, di cư cần phải được xem xét và tính đến trong các chính sách và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội ở các cấp.

Bên cạnh đó, kết quả của điều tra di cư cũng cho thấy, luồng di cư trong nội tỉnh và giữa các tỉnh, các vùng của Việt Nam đang gia tăng mạnh mẽ, chứng minh cho mối liên hệ chặt chẽ giữa di cư và phát triển, đặc biệt là trong cải thiện kinh tế, việc gửi tiền và hỗ trợ cho gia đình, tác động tới môi trường, bình đẳng, sức khỏe sinh sản và các rủi ro khác. Do đó, những kết quả này cần được sử dụng cho tư vấn xây dựng chính sách và lập kế hoạch phát triển dựa trên bằng chứng.

Còn theo bà Ngọc, chính bởi tỷ lệ hài lòng của người di cư sau khi di cư đang giảm mạnh (50% người di cư cảm thấy hài lòng với công việc và thu nhập của mình sau khi di cư ở năm 2015, so với trên 77% vào năm 2004), chính sách cho người di cư không cần phải quá ưu tiên nhưng cần bình đẳng về mọi mặt so với những người không di cư, nhằm khuyến khích và tăng cường động lực di cư, giúp chuyển đổi cơ cấu lao động và khuyến khích hành vi di cư bền vững.

Đa số người di cư và người không di cư trong nhóm tuổi 15-59 hiện đang làm việc. Tỷ lệ này đối với người di cư là 74,8% và người không di cư là 78,2%. Đông Nam Bộ là nơi có tỷ trọng người di cư đang làm việc (87,8%) cao nhất cả nước, tiếp đến là đồng bằng sông Hồng (81%), đây là hai khu vực tập trung nhiều khu công nghiệp trong cả nước và thu hút một lượng lớn lao động nhập cư đến làm việc. Kết quả điều tra cho thấy, đa số người di cư có việc làm ở nơi đến, và do vậy họ không đóng góp làm tăng tỷ lệ thất nghiệp tại điểm đến.
Số liệu điều tra cũng cho thấy tỷ lệ người di cư có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao hơn người không di cư (31,7% so với 24,5%). Đặc biệt tỷ lệ phần trăm người di cư có trình độ cao đẳng, đại học hoặc trên đại học là 23,1%, trong khi tỷ lệ này ở người không di cư là 17,4%.

Có thể bạn quan tâm