Xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh

Không có cạnh tranh hoặc hạn chế cạnh tranh đều tạo cơ hội cho độc quyền thao túng. Độc quyền trong kinh doanh, dù hình thành và tồn tại bằng cách nào, cũng gây ra những hậu quả tiêu cực đối với việc phát triển kinh tế - xã hội, dẫn đến hình thành giá cả độc quyền, giá cả lũng đoạn, ảnh hưởng đến lợi ích của người tiêu dùng và nền kinh tế nói chung. Bên cạnh đó, với việc mở cửa thị trường, các công ty đa quốc gia có điều kiện mở rộng hoạt động tại Việt Nam. Với sức mạnh kinh tế của mình, những công ty này có khả năng tạo lập được vị trí thống lĩnh và một bộ phận doanh nghiệp trong nước với tiềm lực hạn chế đang có nguy cơ bị loại bỏ dần khỏi đời sống kinh tế.

Trong bối cảnh đó, sự ra đời của Luật Cạnh tranh là rất cần thiết. Thứ trưởng Bộ Thương mại Lê Danh Vĩnh khẳng định: "Sự ra đời của Luật Cạnh tranh tạo nên hành lang pháp lý giúp chúng ta quản lý được quá trình dẫn đến việc hình thành vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền, nhằm duy trì môi trường kinh doanh mang tính cạnh tranh, đồng thời loại bỏ hoặc kiểm soát những hành vi gây hạn chế cạnh tranh hoặc có khả năng gây ra hạn chế cạnh tranh".

Luật Cạnh tranh tập trung chế tài những hành vi hạn chế cạnh tranh, trong đó hành vi đầu tiên là thoả thuận hạn chế cạnh tranh. Luật đã nêu rõ những thoả thuận bị coi là thoả thuận hạn chế cạnh tranh. Tuy nhiên, Luật không cấm mọi thoả thuận hạn chế cạnh tranh, mà chỉ cấm các thoả thuận loại này trong một số trường hợp. Cụ thể, Luật cấm thoả thuận nhằm ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh; thoả thuận loại khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thoả thuận và thông đồng để một hoặc các bên của thoả thuận thắng thầu trong việc cung cấp hà ng hoá, dịch vụ. Trong trường hợp không thuộc các loại nêu trên, Luật chỉ cấm khi các doanh nghiệp tham gia thoả thuận có tổng thị phần từ 30% trở lên, vì chỉ khi đạt đến một sức mạnh kinh tế đó, những thoả thuận hạn chế cạnh tranh này mới gây ra tác hại thực sự cho môi trường kinh doanh và người tiêu dùng.

Về tiêu chí miễn trừ, ông Vĩnh khẳng định: "Luật tiếp cận vào mặt trái của vấn đề, tức là doanh nghiệp sẽ được làm mọi việc mà Luật không cấm. Tuy nhiên, để có thể linh hoạt áp dụng Luật trong một số trường hợp đặc biệt, Luật đã đưa ra các trường hợp miễn trừ khi doanh nghiệp đạt được tiêu chí nhằm hạ giá thành, làm lợi cho người tiêu dùng".

Hành vi thứ hai bị chế tài là việc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền. Điều 11 của Luật quy định, một doanh nghiệp có thị phần trên thị trường liên quan từ 30% trở lên sẽ bị coi là có vị trí thống lĩnh. Trong trường hợp hai doanh nghiệp có thị phần từ 50% trở lên, ba doanh nghiệp có thị phần từ 65% trở lên, bốn doanh nghiệp có thị phần từ 75% trở lên cũng sẽ bị coi là nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh. Vị trí độc quyền là trường hợp đặc biệt của vị trí thống lĩnh khi không có doanh nghiệp nào cạnh tranh với doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền.

Ông Vĩnh cho biết, cách tiếp cận của Luật là khi một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thì doanh nghiệp đó chưa vi phạm pháp luật. Chỉ khi một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hay vị trí độc quyền, hay nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thực hiện các hành vi lạm dụng thì mới bị coi là vi phạm. Luật sẽ áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp trên thị trường, kể cả doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền nhà nước, doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích để bảo đảm "thực hiện độc quyền nhà nước trong những lĩnh vực cần thiết, nhưng không biến độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp".

Hành vi thứ ba bị chế tài là tập trung kinh tế. Luật quy định, một doanh nghiệp có thị phần trên thị trường liên quan đạt từ 30% trở lên sẽ bị coi là có vị trí thống lĩnh và cần phải được kiểm soát. Với cách tiếp cận như vậy, Luật quy định, doanh nghiệp là kết quả của tập trung kinh tế đạt được thị phần trên thị trường liên quan từ 30% trở lên phải thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh. Về trường hợp cấm tập trung kinh tế, Điều 18 của Luật cấm việc hình thành doanh nghiệp chiếm hơn 50% thị phần trên thị trường liên quan thông qua tập trung kinh tế vì doanh nghiệp đó chắc chắn có khả năng khống chế thị trường. Ông Vĩnh giải thích: "Luật không cấm việc sáp nhập, mua lại hay liên doanh dù tỷ lệ chiếm lĩnh thị phần của doanh nghiệp do kết quả của sự tập trung kinh tế chiếm hơn 50% nếu sau khi thực hiện các phương thức tập trung kinh tế vẫn là các doanh nghiệp nhỏ và vừa".

Ngoài ra, Luật còn quy định các trường hợp miễn trừ khi việc tập trung kinh tế hơn 50% nhưng có tác dụng giải quyết các vấn đề xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Thẩm quyền xét miễn trừ thuộc cơ quan quản lý cạnh tranh và Thủ tướng Chính phủ, tuỳ từng trường hợp.

Có thể bạn quan tâm