Xóa đói, giảm nghèo từ các loại cây lâm sản ngoài gỗ

ND - Năm nay, nhờ mưa thuận gió hòa nên được mùa cả cây mắc mật, cây dâu da,... bà con trong bản không phải lo cái đói nữa, hái một cây mắc mật đem bán cũng mua được 10 kg gạo... Mấy năm trước những tưởng phải chặt cây đi vì chả ai mua, nhưng bây giờ lại trở thành đặc sản để đem ngâm  măng ớt, làm gia vị... có giá gia đình mình sẽ trồng nhiều hơn... Ðó là lời thổ lộ của anh Hoàng Văn Bình, ở thôn Khuôn Vằn, Mai Sao, Chi Lăng (Lạng Sơn).

HẰNG năm, khi vào những ngày tháng 7 và tháng 8, bà con các dân tộc lại có dịp thu hái những loại cây lâm sản ngoài gỗ như: cây mắc mật, dâu da, thạch đen, tre mai... và nhiều loại cây đặc sản đem ra chợ bán, để trao đổi hàng hóa, góp phần vào thu nhập ổn định cuộc sống.

Cây mắc mật là loại cây gỗ nhỏ, chỉ cao độ năm đến sáu mét, cây mọc tự nhiên trên vùng núi đá vôi và cả vùng núi đất, những nơi có độ cao từ 500 đến 600 m (so với mực nước biển), có lượng mưa hằng năm từ 600 mm trở lên.

Từ xa xưa nhân dân các dân tộc vùng Ðông Bắc như: Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn..., đã có thói quen dùng quả và lá cây mắc mật ăn tươi, ngâm với măng chua, để dùng quanh năm. Hoặc dùng quả mắc mật tươi hay khô để chế biến các món ăn khác như: thịt lợn kho, khâu nhục, thịt lợn quay, vịt quay... tạo ra mùi thơm quyến rũ nếu thiếu lá mắc mật thì không thể trở thành món đặc sản trên.

Do cuộc sống ngày càng nâng cao, cây mắc mật trở thành đồ gia vị không thể thiếu trong các bữa ăn hằng ngày nên nhiều địa phương đang tập trung trồng với diện tích ngày càng tăng. Những năm trước diện tích cây mắc mật từ vài chục ha nay đã lên tới 279 ha (năng suất trung bình đạt 5,2 tấn quả/ha; hiện giá một kg mắc mật từ năm nghìn đến tám nghìn đồng/kg).

Cây được trồng nhiều nhất ở các huyện: Bình Gia, Chi Lăng, Bắc Sơn, Văn Quan... Tại bản Ðao, xã Tân Văn (Bình Gia), cây mắc mật đã trở thành cây chủ lực xóa đói, nghèo, vụ thu hoạch năm nay bà con thu khoảng hơn 200 tấn quả, trị giá gần một tỷ đồng.

Cùng với cây mắc mật, cây thạch đen ở trên địa bàn Lạng Sơn cũng đang trở thành một loại cây cho thu nhập cao của nhiều hộ gia đình nông dân ở vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn.

Cây thạch đen là một loại cây thân thảo (như cây rau húng) nhưng không làm rau mà dùng nấu thạch ăn, làm đồ giải khát, mỹ phẩm.  Cây thạch trồng ở vùng đất Tràng Ðịnh có chất lượng tốt nên có giá trị cao nhất trên thị trường, chủ yếu được xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc. Ðến nay, 100% số xã trong huyện đều trồng thạch, với diện tích hằng năm 700 ha -  1.200 ha, sản lượng bình quân 62 tạ/ha thạch khô.

Trưởng phòng kinh tế huyện Tràng Ðịnh, Lý Văn Lâm, cho biết: Năm 2007 các xã trong huyện trồng vượt con số hơn 1.900 ha nhiều nhất từ trước đến nay, giá bình quân một kg thạch khô dao động từ 15 đến 20 nghìn đồng/kg, với tổng trị giá doanh thu hơn 100 tỷ đồng. Cây thạch đen dễ trồng, dễ chăm sóc, lại được giá  cho nên năm nay, huyện phấn đấu trồng hơn 2.000 ha. Cây thạch được trồng ở chân ruộng một vụ, các nương bãi. Hiện nay, bà con nông dân trong huyện đang chuẩn bị thu hái cây thạch đen.

Anh Bế  Trung Thành, ở xã Chí Minh nói: Hằng năm gia đình trồng hai sào thạch (khoảng 700 m2), bán được 10 triệu đồng, với giá một kg thạch từ 18  nghìn đồng đến 20 nghìn đồng/kg, như vậy một ha có thể thu đạt 135 triệu đồng/ha, năm thấp nhất cũng đạt từ 40 đến 50 triệu đồng/ha, cây thạch thật sự là cây chủ lực xóa đói, giảm nghèo cho bà con... Song do giá cả bấp bênh, thị trường không ổn định vì vậy nhiều hộ nông dân vẫn nơm mớp lo sợ bị tư thương ép giá. Nếu các sản phẩm của cây thạch được nghiền bột khô, chế biến các loại kem dưỡng da... theo công nghệ cao thì cây thạch còn có giá hơn, vì cây thạch mới chỉ xuất thô sang Trung Quốc.

NẰM trong vùng khí hậu á nhiệt đới, lạnh về mùa đông và tương đối mát mẻ về mùa hè, nhiệt độ bình quân hằng năm khoảng 21 oC, và có những nhân tố địa lý tự nhiên khác, Lạng Sơn rất thích hợp cho môi trường sống và phát triển các loại thực vật thân nhỏ, thân nhỡ, thường là đối tượng chủ yếu tạo nên sự đa dạng và phong phú về lâm sản ngoài gỗ.

Theo các ngành chức năng của tỉnh, trên địa bàn Lạng Sơn có khoảng 500 loại cây mà người dân đang khai thác sử dụng trong đời sống theo kiểu cha truyền con nối, phục vụ đời sống của người dân. Những nhóm loại cây đó bao gồm nhóm cây công nghiệp lâu năm như: Hồi, quế, thông, sở; nhóm cây cho chất nhuộm gồm: Gấc, gừng, nghệ, cẩm đen, cẩm đỏ củ mài, chàm... Nhóm cây cho gia vị là: rau bồ khai, rau ngót rừng, rau dớn... Nhóm các loại tre, nứa...

Những năm qua, các loại cây lâm sản ngoài gỗ luôn song hành với công cuộc xóa đói, giảm nghèo cho bà con các dân tộc, nhiều loại cây trở thành nguồn thu nhập chính cho bà con. Song có một thực tế là những loại cây nay mới khai thác ở dạng thu hái lượm tự nhiên, của loài mọc hoang. Dẫn đến nhiều loại cây có giá trị kinh tế cao, thì bị người dân khai thác cạn kiệt dẫn đến có nguy cơ tiệt chủng.

Trên cơ sở những sản phẩm hiện đã có, tỉnh cần có chính sách, cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp, các nhà đầu tư hỗ trợ kỹ thuật trồng, khai thác và chế biến sản phẩm phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu. Các địa phương cần phát huy thế mạnh, chọn những loài đáp ứng nhu cầu thị trường, chuyển từ khai thác tự nhiên sang gây trồng đại trà tạo sản phẩm hóa hàng.

Nếu khai thác được tiềm năng thế mạnh đó thì các nhóm sản phẩm lâm sản ngoài gỗ trên địa bàn tỉnh có chỗ đứng trên thị trường, trở thành thương hiệu mạnh, góp phần vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo trong bà con các dân tộc.

Có thể bạn quan tâm