Đối mặt khó khăn
Tại Hội nghị Phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH được tổ chức cuối năm 2017 tại Cần Thơ, nhiều ý kiến cho rằng, những năm gần đây, sự phát triển thiếu bền vững của ngành nông nghiệp ĐBSCL đã bộc lộ khi tốc độ tăng trưởng chậm lại, từ mức 7,15%/năm (giai đoạn 2001 - 2010), xuống còn khoảng 5%/năm (giai đoạn 2011-2016). Cùng với đó là việc đóng góp của ngành nông nghiệp ĐBSCL vào GDP nông nghiệp toàn quốc cũng giảm dần.
Ngoài nguyên nhân khách quan khu vực này đã, đang đối mặt với những tác động nghiêm trọng do biến đổi khí hậu, nước biển dâng, khí hậu cực đoan, tình trạng khai thác và sử dụng nước ở thượng nguồn sông Mê Công và các hoạt động nhân sinh khác, thì nông nghiệp ĐBSCL đang tồn tại ba khâu yếu kém nhất, đó là giống, thức ăn thủy sản và chế biến sâu.
Trong vùng ĐBSCL chưa có nhiều các cơ sở phát triển giống chăn nuôi, nhất là các giống thích ứng với BĐKH. Tiếng là vựa thủy sản của cả nước, nhưng việc sản xuất, cung ứng và quản lý chất lượng con giống thủy sản trong vùng còn rất hạn chế. Hiện tại, ĐBSCL có hơn 800 trại sản xuất tôm giống, nhưng phân bố rải rác khắp nơi, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, sản xuất ra chất lượng con giống không cao, chỉ đáp ứng khoảng 50% nhu cầu. Nhiều trại nuôi phải nhập giống trôi nổi trên thị trường không kiểm soát được chất lượng, tỷ lệ sống sau thu hoạch đạt từ 45 đến 55%, có lúc, có nơi chỉ đạt 25 đến 30%. Trong khi đó, hơn 80% lượng thức ăn phải nhập khẩu hoặc do các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài sản xuất; người nuôi trồng không chủ động được trong sản xuất mỗi khi có biến động lớn về giá thức ăn (chi phí cho thức ăn chiếm hơn 80% giá thành sản phẩm). Các cơ sở chế biến nông sản, thủy sản chậm đổi mới công nghệ, cơ cấu sản phẩm vẫn chủ yếu là sản phẩm đông lạnh có giá trị thấp, các sản phẩm được chế biến sâu, có giá trị cao chưa nhiều, tính cạnh tranh kém. Việc cơ giới hóa, tự động hóa còn thấp, sử dụng nhiều nhân công, năng suất và chất lượng sản phẩm tạo ra chưa cao.
Đã vậy không gian kinh tế vùng bị chia cắt, nhiều cụm ngành kinh tế và sản phẩm chủ lực vùng mà các tỉnh có lợi thế chưa được liên kết tốt, thậm chí còn cạnh tranh cục bộ lẫn nhau. Việc phân cấp ra quyết định về đầu tư công thời gian qua đã giúp cho các địa phương phát huy tính chủ động sáng tạo, nhưng cũng góp phần tạo ra sự cạnh tranh giữa các tỉnh, thành phố tại ĐBSCL, dẫn đến các quyết định đầu tư không đạt hiệu quả tối ưu. Kết quả là đầu tư trùng lắp, dàn trải, dễ phá vỡ quy hoạch vùng. Trong khi hạ tầng hậu cần phục vụ nông nghiệp như cảng, kho bãi, giao thông và các dịch vụ giao nhận thiếu. Hậu quả là hơn 70% số hàng hóa của vùng này phải vận chuyển bằng đường bộ lên các cảng biển ở TP Hồ Chí Minh và Vũng Tàu mới có thể xuất khẩu ra nước ngoài. Hệ thống thủy lợi chủ yếu phục vụ sản xuất lúa gạo, chưa bảo đảm cho phát triển các sản phẩm có giá trị cao thích ứng với BĐKH như cây trồng cạn và nhất là thủy sản.
Quy hoạch sản xuất hợp lý
Để phát triển kinh tế - xã hội nói chung và nông nghiệp nói riêng của vùng ĐBSCL, năm 2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 245/QĐ-TTg về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Tiếp đó, năm 2016 là Quyết định 593/QĐ-TTg về Quy chế thí điểm liên kết phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL giai đoạn 2016 – 2020. Gần đây nhất là Nghị quyết 120/NQ-CP ngày 17-11-2017 của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH, và Quyết định 68/QĐ-TTg ngày 15-1-2018 về việc điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng ĐBSCL đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.
Trên cơ sở các Nghị quyết, Quyết định của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN và PTNT) đã ban hành Quyết định 639/QĐ-BNN-KH phê duyệt Quy hoạch nông nghiệp, nông thôn vùng ĐBSCL đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trong điều kiện BĐKH; Quyết định 805/BNN-KH quy hoạch nông nghiệp, nông thôn vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030. Các đơn vị chuyên ngành chăn nuôi, trồng trọt, thủy sản cũng xây dựng ban hành nhiều chính sách, chiến lược, quy hoạch vùng, như quy hoạch tổng thể thủy lợi; quy hoạch lúa thu đông ĐBSCL; thay đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa, cây ăn quả; chiến lược chăn nuôi; chiến lược phát triển thủy sản, quy hoạch tổng thể thủy sản, quy hoạch cảng cá…
Ngoài ra, tranh thủ các nguồn vốn của các tổ chức xã hội trong và ngoài nước, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn còn triển khai thực hiện một số dự án lớn tại vùng ĐBSCL, như Dự án Chuyển đổi nông nghiệp bền vững (VNSAT) tại các tỉnh An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Sóc Trăng, Tiền Giang; Dự án Chống chịu khí hậu tổng hợp và sinh kế bền vững ĐBSCL (WB9) từ nguồn vốn vay của Ngân hàng Thế giới; Dự án Quản lý và Giảm nhẹ lũ và hạn tiểu vùng sông Mê Công mở rộng (ADB-GMS1),... với tổng vốn đầu tư hàng trăm tỷ đồng.
Từ những “cây gậy” cơ chế, chính sách, ngành nông nghiệp các địa phương đã phối hợp các bộ, ngành liên quan chuyển đổi gần 100 nghìn héc-ta đất trồng lúa trong vùng sang trồng rau, dưa hấu, ngô… Đồng thời, chủ động thu hẹp gần 30 nghìn héc-ta lúa xuân hè và tăng sản xuất vụ lúa thu đông lên hơn 824 nghìn héc-ta để tránh hạn mặn cuối vụ đông xuân và đầu vụ hè thu ở các khu vực ven biển. Cùng với việc thay đổi cơ cấu mùa vụ, để giúp các địa phương né mặn, tránh lũ, chịu phèn, chịu mặn, từ năm 2011 đến nay, các viện nghiên cứu của Bộ NN và PTNT đã lai tạo và công nhận 41 bộ giống lúa, trong đó có nhiều giống ngắn ngày. Hướng dẫn nông dân áp dụng các quy trình canh tác lúa bền vững thích nghi với BĐKH như “ba giảm, ba tăng”, “một tăng năm giảm” cũng như áp dụng kỹ thuật tưới nước tiết kiệm tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP. Xây dựng gần 200 nghìn héc-ta mô hình cánh đồng lớn, giúp nông dân chuyển từ canh tác trên diện tích nhỏ sang các mô hình sản xuất lớn kết nối với doanh nghiệp.
Phát huy thế mạnh về nuôi trồng thủy sản, nhiều địa phương khu vực ĐBSCL chủ động cơ cấu lại đối tượng nuôi và phương thức nuôi theo hướng đa dạng. Trong đó cá tra được ưu tiên đầu tư nuôi thâm canh, bằng giống sinh sản nhân tạo ở các tỉnh, thành phố Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long… với diện tích hơn 5.100 ha, cho sản lượng hơn 1,1 triệu tấn/năm, góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu năm 2017 đạt hơn 1,7 tỷ USD. Đối với con tôm, để thích ứng với điều kiện hạn mặn, các địa phương tổ chức nuôi thâm canh/siêu thâm canh; áp dụng các giải pháp công nghệ nuôi tôm ít thay nước; chuyển đổi từ nuôi chuyên tôm, sang nuôi ghép với cua, cá biển để tăng hiệu quả diện tích mặt nước, nhờ vậy kim ngạch xuất khẩu tôm năm 2017 đạt hơn 3,85 tỷ USD, tăng 22,3% so với năm trước, và dự kiến năm nay là 4,2 tỷ USD.
Thứ trưởng Bộ NN và PTNT Lê Văn Tám cho biết: đến nay việc tự sản xuất, cung ứng đủ giống tôm sú bố mẹ sạch bệnh, cùng với nhiều chuỗi sản xuất, nuôi tôm công nghệ cao, nuôi tôm sạch bảo đảm an toàn thực phẩm bước đầu được hình thành ở Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang,... Hy vọng rằng với những thay đổi về chất, nông nghiệp ĐBSCL sẽ lấy lại đà tăng trưởng bền vững.
| Ngày 23-3, Bộ Xây dựng công bố Điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng ĐBSCL đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo Quyết định số 68/QĐ-TTg ngày 15-1-2018 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, trên cơ sở phát triển các vùng sinh thái nông nghiệp đặc trưng, phù hợp phân vùng phát triển kinh tế và thích ứng với những ảnh hưởng của BĐKH, nhằm phát triển nền nông nghiệp đa dạng, có trình độ chuyên môn hóa cao trên cơ sở công nghiệp hóa và thương mại hóa nông nghiệp. |