DOANH NGHIỆP VIỆT NAM: 

KHÁT VỌNG KIẾN TẠO
VÀ DẪN DẮT PHÁT TRIỂN 

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với các đại biểu doanh nghiệp tiêu biểu. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với các đại biểu doanh nghiệp tiêu biểu. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Sau gần 40 năm Đổi mới, cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam đã có bước trưởng thành mạnh mẽ cả về số lượng, quy mô, năng lực và vị thế. Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, phát huy khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng suất đang đặt doanh nghiệp trước một không gian phát triển rộng lớn hơn, đồng thời cũng đòi hỏi trách nhiệm lớn hơn. Phóng viên Báo Nhân Dân có cuộc phỏng vấn Tiến sĩ Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, về vấn đề này.

Tiến sĩ Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương.

Tiến sĩ Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương.

Phóng viên: Thưa đồng chí, trong gần 40 năm Đổi mới, đội ngũ doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam đã đồng hành cùng đất nước, từng bước trưởng thành cả về quy mô, năng lực và vị thế. Trong giai đoạn phát triển mới, qua các nghị quyết quan trọng như Nghị quyết số 68-NQ/TW, Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 19-NQ/TW; Đảng và Nhà nước đặt ra những yêu cầu, kỳ vọng gì đối với cộng đồng doanh nghiệp và doanh nhân?

Tiến sĩ Nguyễn Đức Hiển: Trong gần 40 năm Đổi mới, sự trưởng thành của đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân đã đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển đất nước. Các nghị quyết được ban hành thời gian qua tiếp tục khẳng định vai trò đó, đồng thời đặt ra yêu cầu và kỳ vọng cao hơn: Hình thành được lực lượng doanh nghiệp đủ mạnh để nâng cao năng lực nội sinh, tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị, dẫn dắt những ngành, lĩnh vực chiến lược và trở thành chủ thể quan trọng trong đổi mới mô hình phát triển đất nước. 

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với các đại biểu doanh nghiệp tiêu biểu tham dự cuộc gặp mặt. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với các đại biểu doanh nghiệp tiêu biểu tham dự cuộc gặp mặt. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Theo tôi, tác động quan trọng của các nghị quyết là củng cố niềm tin, khơi thông nguồn lực, mở rộng không gian phát triển và tạo động lực để doanh nghiệp nâng cao năng lực, sức cạnh tranh. 

Trước hết, với Nghị quyết số 68-NQ/TW, việc xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia thể hiện bước phát triển rõ nét trong nhận thức về vị trí, vai trò của khu vực này. Các định hướng tháo gỡ rào cản, bảo vệ quyền kinh doanh, tạo thuận lợi trong tiếp cận các nguồn lực là cơ sở để doanh nghiệp yên tâm đầu tư, mở rộng hoạt động. Kỳ vọng đặt ra là xây dựng khu vực kinh tế tư nhân lớn mạnh, hình thành các doanh nghiệp, tập đoàn có năng lực cạnh tranh quốc tế, tiên phong về công nghệ, dẫn dắt thị trường và kết nối chuỗi giá trị. 

Nghị quyết số 79-NQ/TW lại đặt trọng tâm vào phát huy vai trò của kinh tế nhà nước, trong đó doanh nghiệp nhà nước phải thật sự trở thành lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, tiên phong, mở đường và dẫn dắt trong những ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược, thiết yếu. Mục tiêu không chỉ là bảo toàn và sử dụng hiệu quả vốn nhà nước, mà cao hơn là phát huy nguồn lực nhà nước để tạo năng lực dẫn dắt, mở đường cho những lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược đối với nền kinh tế. 

Trong khi đó, Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đặt doanh nghiệp trong một tổng thể phát triển rộng hơn. Nghị quyết định hướng chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao; đồng thời cấu trúc lại hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm. 

Như vậy, nếu nhìn tổng thể, kỳ vọng chung là cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam lớn mạnh cả về quy mô và chất lượng; chuyển từ vị trí chủ yếu là người tham gia thị trường sang lực lượng kiến tạo và dẫn dắt phát triển; làm chủ công nghệ, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và gắn lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích quốc gia, dân tộc. 

Sự lớn mạnh ấy phải góp phần nâng cao năng lực nội sinh, tự chủ, tự cường và vị thế của đất nước trong giai đoạn mới. Đây là yêu cầu rất lớn, nhưng đồng thời cũng là không gian phát triển rất lớn đang mở ra cho cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam.

Ảnh: Báo Nhân Dân

Ảnh: Báo Nhân Dân

Phóng viên: Để những định hướng mới của Đảng và Nhà nước thật sự đi vào cuộc sống, theo đồng chí, đâu là những yêu cầu đặt ra đối với cả hệ thống chính trị và cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân? 

Tiến sĩ Nguyễn Đức Hiển: Theo tôi, trước hết, cần có sự đổi mới mạnh mẽ trong tổ chức thực hiện, gắn với sự chuyển biến đồng bộ trong hành động của cả hệ thống chính trị và cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân. Các nghị quyết đã xác lập tầm nhìn và định hướng rõ ràng, đúng đắn, sát thực tiễn. Khoảng cách từ nghị quyết đến kết quả thực tế chỉ có thể được thu hẹp bằng đổi mới mạnh mẽ công tác tổ chức thực hiện, gắn với sự chuyển biến đồng bộ trong hành động của cả hệ thống chính trị và cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân. 

Về phía Nhà nước và hệ thống chính trị, trước hết phải chuyển mạnh từ tư duy quản lý, kiểm soát sang kiến tạo, phục vụ, đồng hành và dẫn dắt phát triển; tạo chuyển biến thực chất trong quản trị thực thi và tổ chức thực hiện. Chính sách đúng phải đi đôi với thực thi quyết liệt, hiệu quả. Tinh thần của các nghị quyết cần được thể chế hóa nhanh, đồng bộ và nhất quán, xác định rõ trách nhiệm, tiến độ và kết quả đầu ra; đồng thời tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, thủ tục, nguồn lực, tạo môi trường kinh doanh ổn định, minh bạch và có khả năng dự báo. Quan trọng hơn, hiệu quả thực thi phải được đo bằng những thay đổi mà doanh nghiệp và người dân thật sự cảm nhận được trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. 

Đối với doanh nghiệp, kỳ vọng càng lớn thì trách nhiệm càng cao. Môi trường kinh doanh thuận lợi chỉ phát huy hiệu quả khi doanh nghiệp đủ năng lực nắm bắt và tận dụng cơ hội. Doanh nghiệp cần chủ động đổi mới mô hình quản trị, nâng cao năng suất, đầu tư cho khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng thương hiệu; đồng thời nâng cao tính chuyên nghiệp, tuân thủ pháp luật, đề cao đạo đức và văn hóa kinh doanh. 

Nói cách khác, Nhà nước kiến tạo không gian phát triển, còn doanh nghiệp phải chủ động nâng cao năng lực và chuyển hóa cơ hội thành đầu tư, sản phẩm, công nghệ, việc làm và giá trị mới. Chỉ khi hai phía cùng chuyển động thì những đổi mới về cơ chế, chính sách mới thật sự chuyển hóa thành năng suất cao hơn, sức cạnh tranh lớn hơn và chất lượng tăng trưởng tốt hơn. 

Cụ thể hóa Nghị quyết 57, ngành công thương hỗ trợ người dân và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ minh bạch nguồn gốc xuất xứ qua mã QR, bảo đảm an toàn thực phẩm. (Ảnh: Mai Huyên-Minh Khuyên)

Cụ thể hóa Nghị quyết 57, ngành công thương hỗ trợ người dân và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ minh bạch nguồn gốc xuất xứ qua mã QR, bảo đảm an toàn thực phẩm. (Ảnh: Mai Huyên-Minh Khuyên)

Cụ thể hóa Nghị quyết 57, ngành công thương hỗ trợ người dân và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ minh bạch nguồn gốc xuất xứ qua mã QR, bảo đảm an toàn thực phẩm. (Ảnh: Mai Huyên-Minh Khuyên)

Cụ thể hóa Nghị quyết 57, ngành công thương hỗ trợ người dân và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ minh bạch nguồn gốc xuất xứ qua mã QR, bảo đảm an toàn thực phẩm. (Ảnh: Mai Huyên-Minh Khuyên)

Phóng viên: Từ góc độ của một cơ quan tham mưu chiến lược, đồng chí nhìn nhận như thế nào về những tác động bước đầu của các quyết sách mới đối với cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam? 

Tiến sĩ Nguyễn Đức Hiển: Theo tôi, có ba tác động lớn. 

Thứ nhất là củng cố niềm tin. Việc xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, cùng với việc khẳng định vai trò, vị thế của đội ngũ doanh nhân, đã tạo thêm cơ sở để doanh nghiệp yên tâm đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh và theo đuổi những mục tiêu phát triển dài hạn. Những chuyển biến tích cực bước đầu được thể hiện qua số doanh nghiệp gia nhập thị trường. Từ khi Nghị quyết số 68-NQ/TW được ban hành, bình quân mỗi tháng có hơn 18.000 doanh nghiệp thành lập mới, tăng khoảng 38% so với bình quân bốn tháng đầu năm 2025; khoảng 11.300 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng hơn 46%. 

Tính chung năm 2025, cả nước có gần 297.500 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 27,4% so với năm 2024; tổng vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế đạt gần 6,4 triệu tỷ đồng, tăng 77,8%. Đến cuối năm 2025, cả nước có khoảng 1,02 triệu doanh nghiệp đang hoạt động. Đáng chú ý, trong chín tháng năm 2026, cả nước có 223.938 doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường. Những con số này cho thấy niềm tin và sức sống của khu vực doanh nghiệp đang được củng cố, mặc dù phía trước vẫn còn không ít thách thức. 

Thứ hai là mở rộng cơ hội phát triển. Các quyết sách đang thúc đẩy cải thiện môi trường kinh doanh, bảo đảm quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng, giảm chi phí tuân thủ, tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp tiếp cận các nguồn lực. 

Tính đến tháng 6/2026, cả nước đã cắt giảm 697 thủ tục hành chính, đơn giản hóa 673 thủ tục và cắt giảm 1.754 điều kiện kinh doanh không cần thiết; thời gian thực hiện thủ tục hành chính giảm 53%, chi phí tuân thủ giảm 54,6% so với năm 2024. 

Cùng với đó, nhiều chính sách hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân đã được thể chế hóa. Chẳng hạn, Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong ba năm đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa đăng ký kinh doanh lần đầu; chấm dứt việc thu, nộp lệ phí môn bài từ ngày 1/1/2026; đồng thời cho phép doanh nghiệp tính vào chi phí được trừ đối với hoạt động nghiên cứu và phát triển ở mức bằng 200% chi phí thực tế theo quy định của Chính phủ. Các chính sách này đã được Chính phủ hướng dẫn cụ thể tại Nghị định số 20/2026/NĐ-CP. 

Đối với doanh nghiệp, ý nghĩa thiết thực của những quyết sách này chính là tạo ra điều kiện thuận lợi hơn để đưa ý tưởng kinh doanh vào thực tế, huy động nguồn lực, đầu tư công nghệ và mở rộng thị trường. 

Thứ ba là thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao năng suất, sức cạnh tranh và khả năng chống chịu. 

Các quyết sách mới tạo động lực để doanh nghiệp chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động chi phí thấp và tài nguyên sang phát triển dựa nhiều hơn vào khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và năng suất. Nghị quyết số 57-NQ/TW tạo khuôn khổ chiến lược cho đột phá về khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Nghị quyết số 68-NQ/TW xác định kinh tế tư nhân là lực lượng tiên phong trong quá trình này; còn Nghị quyết số 19-NQ/TW đặt những động lực đó trong tổng thể đổi mới mô hình phát triển đất nước. Sự gắn kết này tạo động lực để doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu, làm chủ công nghệ, đổi mới quản trị, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển nguồn nhân lực; qua đó nâng cao giá trị gia tăng và khả năng thích ứng trước biến động của thị trường. 

Nghị quyết số 68-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần gắn phát triển các doanh nghiệp lớn với xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo lấy doanh nghiệp làm trung tâm. 

Các doanh nghiệp lớn phải phát huy vai trò dẫn dắt, tăng cường liên kết với doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học; đưa nhanh kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh và nâng cao năng lực của cả cộng đồng doanh nghiệp.

Cụ thể hóa Nghị quyết 57, ngành công thương hỗ trợ người dân và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ minh bạch nguồn gốc xuất xứ qua mã QR, bảo đảm an toàn thực phẩm. (Ảnh: Mai Huyên-Minh Khuyên)

Cụ thể hóa Nghị quyết 57, ngành công thương hỗ trợ người dân và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ minh bạch nguồn gốc xuất xứ qua mã QR, bảo đảm an toàn thực phẩm. (Ảnh: Mai Huyên-Minh Khuyên)

Cụ thể hóa Nghị quyết 57, ngành công thương hỗ trợ người dân và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ minh bạch nguồn gốc xuất xứ qua mã QR, bảo đảm an toàn thực phẩm. (Ảnh: Mai Huyên-Minh Khuyên)

Cụ thể hóa Nghị quyết 57, ngành công thương hỗ trợ người dân và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ minh bạch nguồn gốc xuất xứ qua mã QR, bảo đảm an toàn thực phẩm. (Ảnh: Mai Huyên-Minh Khuyên)

Phóng viên: Vậy để hình thành được đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân đủ mạnh, có khả năng dẫn dắt những lĩnh vực quan trọng, theo đồng chí chúng ta cần tập trung vào những vấn đề gì? 

Tiến sĩ Nguyễn Đức Hiển: Để tạo dựng được những doanh nghiệp, doanh nhân lớn, có đủ thực lực và sức dẫn dắt trong các lĩnh vực quan trọng, theo tôi cần đặc biệt quan tâm tới bốn vấn đề. 

Một là, lấy doanh nghiệp làm trung tâm, chủ thể; tạo không gian và môi trường để doanh nghiệp, doanh nhân tích lũy và lớn lên. Chúng ta phải tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch, ổn định và có khả năng dự báo; đồng thời khơi thông các nguồn lực về đất đai, vốn, công nghệ, nhân lực và thị trường. Phải bảo vệ hữu hiệu quyền sở hữu, quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng. Mục tiêu đến năm 2028 đưa môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam vào nhóm ba nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới là một yêu cầu rất cao, đồng thời cũng tạo áp lực cải cách mạnh mẽ đối với hệ thống thể chế và thực thi. 

Hai là, kiến tạo hệ sinh thái và cơ chế liên kết để doanh nghiệp lớn thật sự dẫn dắt và lan tỏa. Một doanh nghiệp lớn khó có thể đi xa nếu phía sau không có mạng lưới doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhà cung ứng, các trung tâm nghiên cứu, trường đại học và đối tác công nghệ. Doanh nghiệp đầu đàn vì vậy không chỉ lớn về quy mô mà phải có khả năng kéo theo cả hệ sinh thái cùng phát triển. 

Theo hướng đó, Nhà nước cần tạo cơ chế liên kết giữa doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ và vừa, viện nghiên cứu, trường đại học và các tổ chức khoa học-công nghệ; thúc đẩy cơ chế vốn mồi, đồng đầu tư công-tư, đặt hàng chiến lược và quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia. 

Nghị quyết số 19-NQ/TW đã nhấn mạnh yêu cầu cấu trúc lại hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, lấy doanh nghiệp làm trung tâm, Nhà nước kiến tạo phát triển, định hướng và chia sẻ rủi ro. Đây là một hướng đi rất quan trọng để hình thành những doanh nghiệp dân tộc có năng lực dẫn dắt trong các lĩnh vực công nghệ, công nghiệp nền tảng và thị trường chiến lược. 

Ba là, coi trọng khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao. Trong mô hình phát triển mới, đây phải là nền tảng tạo nên năng suất và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam. Chính sách phải thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, quản trị hiện đại, nhân lực chất lượng cao và xây dựng thương hiệu; đồng thời tạo cơ chế để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào những lĩnh vực mới, công nghệ chiến lược và các chuỗi giá trị có giá trị gia tăng cao. Đó là cách chuyển từ “doanh nghiệp lớn về quy mô” sang “doanh nghiệp mạnh về năng lực”. 

Nghị quyết số 79-NQ/TW đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu doanh nghiệp nhà nước áp dụng công nghệ tiên tiến, quản trị hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát huy vai trò tiên phong, dẫn dắt trong những lĩnh vực then chốt, chiến lược. 

Bốn là, xây dựng một thế hệ doanh nhân có khát vọng lớn và tư duy toàn cầu. Chúng ta cần những doanh nhân không chỉ giỏi điều hành doanh nghiệp của mình mà còn có khả năng nhìn thấy những lĩnh vực Việt Nam có thể vươn lên, làm chủ công nghệ, xây dựng thương hiệu quốc tế và tham gia những chuỗi giá trị có giá trị gia tăng cao. Đồng thời, cần xây dựng đội ngũ doanh nhân có đạo đức, văn hóa kinh doanh, bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần yêu nước, khát vọng cống hiến, thượng tôn pháp luật và trách nhiệm xã hội. 

Cần tôn vinh, cổ vũ và tạo điều kiện để doanh nhân tham gia phản biện chính sách; thu hút, trọng dụng doanh nhân tiêu biểu, tạo điều kiện để những người có năng lực đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển đất nước. 

Phát triển nuôi biển là giải pháp mang tính chiến lược, bền vững. Ảnh: TRINH QUỐC

Phát triển nuôi biển là giải pháp mang tính chiến lược, bền vững. Ảnh: TRINH QUỐC

Phóng viên: Những nghị quyết mới đang tạo ra một không gian phát triển rất lớn, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với doanh nghiệp và doanh nhân. Đồng chí muốn nhắn gửi điều gì tới cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam trong thời điểm này? 

Tiến sĩ Nguyễn Đức Hiển: Từ tinh thần các nghị quyết của Đảng, tôi muốn gửi tới cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam bốn từ khóa: Khát vọng- Sáng tạo-Chuyển đổi-Cống hiến. 

Khát vọng là nuôi dưỡng chí lớn, làm giàu chính đáng, đưa doanh nghiệp Việt Nam vươn tầm quốc tế và gắn sự lớn mạnh của doanh nghiệp với khát vọng phát triển đất nước. 

Sáng tạo cần trở thành động lực phát triển của mỗi doanh nghiệp. Đó là đầu tư cho khoa học-công nghệ, đổi mới quản trị, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; làm chủ công nghệ, tạo ra những sản phẩm có chất lượng, thương hiệu có uy tín và giá trị mới. 

Chuyển đổi cần được thực hiện chủ động và đồng bộ trên nhiều phương diện: Chuyển đổi quản trị, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi cơ cấu gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Mục tiêu cuối cùng là nâng cao năng suất, sức cạnh tranh và khả năng chống chịu của doanh nghiệp. 

Và cống hiến được thể hiện bằng việc gắn lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích quốc gia, dân tộc; tuân thủ pháp luật, đề cao đạo đức, văn hóa kinh doanh, chăm lo người lao động và thực hiện tốt trách nhiệm xã hội. 

Tôi cho rằng, trong giai đoạn phát triển mới, doanh nghiệp Việt Nam không chỉ đứng trước một thị trường lớn hơn, mà còn đứng trước một sứ mệnh lớn hơn. Sự lớn mạnh của từng doanh nghiệp, nếu được đặt trong dòng chảy phát triển của đất nước, sẽ góp phần tạo nên năng lực nội sinh, sức cạnh tranh và vị thế mới của Việt Nam. 

Đó cũng chính là kỳ vọng lớn mà Đảng, Nhà nước và xã hội đang đặt vào cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới. 

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn đồng chí.

Tác giả: ĐINH BÍCH NGỌC (thực hiện)
Nội dung: Báo Nhân Dân
Trình bày: Vũ Anh Tuấn