Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân (Ảnh ĐĂNG KHOA)

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân (Ảnh ĐĂNG KHOA)

Kỷ nguyên mới đặt doanh nhân Việt Nam trước một yêu cầu mang tính bước ngoặt: Không chỉ làm giàu cho doanh nghiệp, mà phải góp phần làm giàu cho đất nước; không chỉ đứng vững trên thị trường trong nước, mà phải đủ năng lực cạnh tranh và khẳng định vị thế trên thị trường toàn cầu. Trong bối cảnh khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế đang định hình lại các chuẩn mực cạnh tranh, khát vọng vươn lên chỉ có thể trở thành sức mạnh khi được chuyển hóa thành năng lực quản trị, công nghệ, thương hiệu và khả năng tạo dựng giá trị mới.

Xây dựng đội ngũ doanh nhân Việt Nam có khát vọng lớn, bản lĩnh lớn, năng lực lớn và trách nhiệm lớn vì thế không chỉ là yêu cầu đối với cộng đồng doanh nghiệp, mà còn là một nhiệm vụ quan trọng trong phát huy nguồn lực nội sinh, nâng cao sức cạnh tranh quốc gia và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. 

Doanh nhân Việt Nam trong vị thế mới

Đội ngũ doanh nhân Việt Nam đã từng bước khẳng định vị trí ngày càng quan trọng trong nền kinh tế. Từ chỗ hoạt động trong một môi trường còn nhiều rào cản, doanh nhân đã trở thành lực lượng trực tiếp tổ chức sản xuất, kinh doanh, huy động và phân bổ các nguồn lực xã hội, tạo việc làm, đóng góp ngân sách, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại. Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới, vai trò của doanh nhân không còn được nhìn nhận đơn thuần ở phương diện tạo ra của cải, mà ngày càng gắn với năng lực kiến tạo, dẫn dắt và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. 

Bước phát triển quan trọng trong nhận thức của Đảng được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 10/10/2023 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ mới. Nghị quyết xác định: “Đội ngũ doanh nhân có vị trí, vai trò quan trọng, là một trong những lực lượng nòng cốt góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, xây dựng và phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ, bảo đảm quốc phòng, an ninh”. Nhìn từ thực tiễn, quy mô và sức đóng góp của khu vực doanh nghiệp tư nhân ngày càng lớn. Việt Nam hiện có hơn 940 nghìn doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh; khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và tạo việc làm cho khoảng 82% tổng số lao động. Những con số đó cho thấy doanh nhân không đứng bên ngoài tiến trình phát triển, mà đã trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của năng lực kinh tế quốc gia. Cùng với sự gia tăng về số lượng và quy mô, vị thế xã hội của doanh nhân cũng đang thay đổi. Doanh nhân ngày nay không chỉ được kỳ vọng là những người “làm kinh tế giỏi”, mà còn phải là những chủ thể có tầm nhìn chiến lược, năng lực quản trị hiện đại, đạo đức kinh doanh, ý thức thượng tôn pháp luật và trách nhiệm với cộng đồng, xã hội, đất nước. Khi nền kinh tế chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào nguồn lực sang mô hình dựa ngày càng nhiều vào tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chất lượng của đội ngũ doanh nhân trở thành một trong những yếu tố quyết định chất lượng tăng trưởng. 

Những năm gần đây, ngày càng xuất hiện nhiều doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam mạnh dạn đầu tư vào những lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao, mở rộng hoạt động ra nước ngoài, xây dựng thương hiệu quốc tế và tham gia vào những chuỗi giá trị xuyên biên giới, đó là những tín hiệu cho thấy tư duy kinh doanh của một bộ phận doanh nhân Việt Nam đang chuyển dịch từ “kinh doanh trong một thị trường” sang “cạnh tranh trong một thế giới”. 

Tuy nhiên, khát vọng chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành năng lực. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt khoảng 475 tỷ USD, một con số cho thấy mức độ hội nhập rất sâu của nền kinh tế. Nhưng khu vực kinh tế trong nước mới chiếm khoảng 22,7% kim ngạch xuất khẩu, trong khi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tới 77,3%. Khoảng cách này đặt ra một yêu cầu rất rõ: Doanh nghiệp Việt Nam phải nâng cao hơn nữa năng lực nội sinh, khả năng làm chủ công nghệ, năng lực tham gia chuỗi cung ứng và tỷ lệ giá trị gia tăng do chính mình tạo ra. 

Khát vọng mới của doanh nhân Việt Nam không thể chỉ được đo bằng số lượng doanh nghiệp thành lập, doanh thu hay quy mô tài sản. Thước đo quan trọng hơn phải là khả năng tạo ra sản phẩm, công nghệ, thương hiệu và mô hình kinh doanh có sức cạnh tranh ở phạm vi quốc tế. Một doanh nghiệp Việt Nam làm chủ được công nghệ lõi, sở hữu thương hiệu có giá trị toàn cầu, tham gia những khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi cung ứng quốc tế sẽ tạo ra giá trị cho chính doanh nghiệp, đồng thời góp phần nâng cao vị thế của nền kinh tế Việt Nam. Mục tiêu đặt ra đến năm 2030, phấn đấu ngày càng có nhiều doanh nghiệp đạt tầm khu vực, một số doanh nghiệp đạt tầm thế giới; đến năm 2045, một bộ phận doanh nghiệp có thương hiệu thế giới, dẫn dắt một số chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu. 

Kỷ nguyên mới đang đặt doanh nhân Việt Nam trước một mặt bằng cạnh tranh hoàn toàn khác. Nếu trước đây lợi thế về chi phí lao động, tài nguyên hay thị trường nội địa có thể tạo ra ưu thế nhất định, thì ngày nay, cạnh tranh ngày càng dựa vào công nghệ, năng suất, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực đổi mới sáng tạo, dữ liệu, thương hiệu, khả năng quản trị và sức chống chịu của doanh nghiệp. Doanh nhân trong kỷ nguyên mới không thể chỉ là người tổ chức và quản lý nguồn lực sẵn có, mà phải trở thành chủ thể thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng và làm chủ công nghệ, đưa khoa học, công nghệ trở thành động lực trực tiếp nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh. Điều quan trọng nhất là phải tạo ra sự chuyển hóa: Khát vọng phải trở thành chiến lược; chiến lược phải trở thành năng lực; năng lực phải tạo thành sức cạnh tranh; và sức cạnh tranh của doanh nghiệp phải góp phần tạo nên sức mạnh của nền kinh tế quốc gia. Khi đó, doanh nhân Việt Nam không chỉ là những người nắm bắt cơ hội của kỷ nguyên mới, mà còn là những người góp phần tạo ra cơ hội mới cho đất nước.

Khoảng cách lớn của doanh nghiệp Việt Nam

Số lượng doanh nghiệp Việt Nam tăng nhanh, phản ánh sức sống và khả năng thích ứng của khu vực doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu nhìn từ yêu cầu xây dựng một nền kinh tế có năng lực cạnh tranh cao, vấn đề không chỉ là có bao nhiêu doanh nghiệp, mà quan trọng hơn là có bao nhiêu doanh nghiệp đủ lớn, đủ mạnh và đủ sức đi ra thế giới. Nghị quyết số 68-NQ/TW đã đặt mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam có 2 triệu doanh nghiệp, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp 55-58% GDP, tăng trưởng bình quân khoảng 10-12%/năm; đồng thời phấn đấu có ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Thực tế, khoảng 98% doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa, đây là lực lượng rất quan trọng đối với việc tạo việc làm, duy trì sức sống của nền kinh tế và lan tỏa hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nghịch lý đặt ra là: Doanh nghiệp càng nhỏ thì càng khó tích lũy nguồn lực để lớn; nhưng nếu không lớn thì lại khó đầu tư cho công nghệ, đổi mới sáng tạo và vươn ra thị trường toàn cầu. 

Vì vậy, bài toán của Việt Nam không phải chỉ là tạo thêm doanh nghiệp mới, mà phải tạo ra một môi trường để doanh nghiệp có thể lớn lên một cách lành mạnh, minh bạch và bằng năng lực cạnh tranh thực chất. Một nền kinh tế muốn có vị thế trên bản đồ kinh tế thế giới không thể chỉ dựa vào hàng trăm nghìn doanh nghiệp nhỏ, mà cần những doanh nghiệp đủ năng lực đầu tư dài hạn, làm chủ công nghệ, sở hữu thương hiệu mạnh và có khả năng cạnh tranh với các tập đoàn quốc tế. 

Bên cạnh đó, một doanh nghiệp muốn đi ra thế giới phải hiểu không chỉ về sản phẩm và thị trường, mà còn cần nắm vững luật pháp quốc tế, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn kỹ thuật, phòng vệ thương mại, logistics, tài chính quốc tế, quản trị chuỗi cung ứng và những yêu cầu ngày càng cao về môi trường, xã hội và quản trị doanh nghiệp (ESG). Năm 2025, năng suất lao động của toàn nền kinh tế tăng 6,83%, nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ mới khoảng 29,2%. Khoảng cách giữa yêu cầu của nền kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tri thức với chất lượng nguồn nhân lực thực tế vẫn còn lớn. 

Với doanh nghiệp, thiếu nhân lực chất lượng cao đồng nghĩa với khó đổi mới công nghệ; thiếu nhân lực quản trị quốc tế đồng nghĩa với khó mở rộng thị trường; thiếu đội ngũ nghiên cứu và phát triển đồng nghĩa với khó tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Đồng thời, chính đội ngũ doanh nhân cũng phải tự đổi mới mình. Từ tư duy điều hành dựa vào kinh nghiệm cá nhân phải chuyển sang quản trị bằng hệ thống; từ “ông chủ” sang nhà kiến tạo tổ chức; từ quản lý doanh nghiệp gia đình sang xây dựng mô hình quản trị chuyên nghiệp, minh bạch và có khả năng kế thừa. 

Ngày nay năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp không chỉ được quyết định bên trong doanh nghiệp mà ngày càng phụ thuộc vào hệ sinh thái mà doanh nghiệp tham gia. Một doanh nghiệp nhỏ không thể tự mình đầu tư toàn bộ từ nghiên cứu, sản xuất, logistics đến phân phối toàn cầu; nhưng nếu được kết nối vào một hệ sinh thái mạnh, doanh nghiệp hoàn toàn có thể trở thành một mắt xích có giá trị trong chuỗi cung ứng. Vì vậy, vấn đề không chỉ là thu hút các tập đoàn đa quốc gia vào Việt Nam, mà phải làm sao để doanh nghiệp Việt Nam trở thành nhà cung ứng, đối tác công nghệ, đối tác dịch vụ và từng bước là đối tác chiến lược của các tập đoàn toàn cầu. 

Liên kết giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ và vừa phải trở thành một cấu trúc phát triển chứ không chỉ là những chương trình hỗ trợ riêng lẻ. Doanh nghiệp lớn có thị trường, công nghệ, tiêu chuẩn và năng lực quản trị; doanh nghiệp nhỏ có tính linh hoạt, khả năng chuyên môn hóa và thích ứng nhanh. Khi được kết nối hiệu quả, hai khu vực có thể tạo thành sức mạnh cộng hưởng. Tương tự, liên kết giữa doanh nghiệp - trường đại học - viện nghiên cứu - Nhà nước phải được thúc đẩy mạnh hơn để biến tri thức thành sản phẩm và sản phẩm thành giá trị kinh tế. 

Sức chống chịu và văn hóa kinh doanh cũng đang trở thành một bộ phận của năng lực cạnh tranh quốc gia. Cạnh tranh toàn cầu không chỉ là cuộc đua về giá thành hay công nghệ. Đó còn là cuộc đua về niềm tin, uy tín, khả năng tuân thủ và sức chống chịu. Một doanh nghiệp có thể mất thị trường không phải vì sản phẩm kém, mà vì vi phạm tiêu chuẩn, thiếu minh bạch, không đáp ứng yêu cầu môi trường hoặc không kiểm soát được rủi ro trong chuỗi cung ứng. Bởi vậy, cần phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh về số lượng, chất lượng, cơ cấu hợp lý; có tầm nhìn, trí tuệ, đạo đức, tinh thần kinh doanh, làm giàu chính đáng; năng động, sáng tạo, năng lực quản trị tiên tiến, tuân thủ pháp luật, có đạo đức, văn hóa kinh doanh mang bản sắc dân tộc. Tinh thần doanh nhân thời đại mới phải gắn khát vọng làm giàu với trách nhiệm xã hội; lợi nhuận với đạo đức; cạnh tranh với thượng tôn pháp luật; phát triển doanh nghiệp với phát triển bền vững. 

Nhìn thẳng vào những điểm nghẽn ấy để thấy rằng, khoảng cách lớn nhất của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay không còn nằm ở khát vọng. Khát vọng vươn lên đã có; thị trường đã mở; không gian hội nhập đã rộng; chính sách cũng đang chuyển mạnh theo hướng kiến tạo và đồng hành. Điểm quyết định nằm ở khả năng biến khát vọng thành năng lực nội sinh, công nghệ, quản trị, thương hiệu và sức cạnh tranh thực chất.

Thủ tướng Lê Minh Hưng dự Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp về chủ đề “Tháo gỡ điểm nghẽn - Khơi thông nguồn lực - Thúc đẩy tăng trưởng” (Ảnh NHẬT BẮC)

Thủ tướng Lê Minh Hưng dự Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp về chủ đề “Tháo gỡ điểm nghẽn - Khơi thông nguồn lực - Thúc đẩy tăng trưởng” (Ảnh NHẬT BẮC)

Kiến tạo doanh nhân tầm vóc toàn cầu

Thực tế cho thấy, không thể có doanh nhân tầm vóc toàn cầu nếu môi trường kinh doanh chưa thực sự tạo điều kiện để doanh nghiệp tự do sáng tạo, cạnh tranh và lớn mạnh. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới và Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân là bước chuyển quan trọng trong nhận thức về vai trò của doanh nghiệp và doanh nhân: Nhà nước không làm thay thị trường, càng không làm thay doanh nghiệp, mà phải tạo dựng một “đường băng” đủ rộng, đủ thông thoáng để các chủ thể kinh tế phát huy năng lực. 

Những mục tiêu Nghị quyết số 68-NQ/TW đặt ra cho thấy phát triển kinh tế tư nhân, phát triển doanh nghiệp và xây dựng đội ngũ doanh nhân đã trở thành một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước. Trọng tâm của cải cách thể chế trong giai đoạn mới phải là giảm chi phí tuân thủ, đơn giản hóa thủ tục, tăng tính minh bạch, bảo đảm quyền tự do kinh doanh, tiếp cận bình đẳng các nguồn lực và nâng cao tính ổn định, dự báo của chính sách. 

Bên cạnh đó, trong cạnh tranh toàn cầu, lợi thế về tài nguyên, lao động giá rẻ và chi phí sản xuất thấp ngày càng thu hẹp. Lợi thế quyết định thuộc về những doanh nghiệp có khả năng làm chủ công nghệ, tạo ra sản phẩm mới, tổ chức sản xuất thông minh và liên tục nâng cao năng suất. Nghị quyết số 57-NQ/TW đã xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại. Thực tế cho thấy Việt Nam đã có những bước tiến đáng ghi nhận. Năm 2025, theo lễ công bố Báo cáo GII 2025 tại Geneva, Việt Nam đứng thứ 44/139 quốc gia, nền kinh tế về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), đứng thứ ba ASEAN. Tuy nhiên, tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo mới khoảng 34,6%, giảm so với năm trước. Khoảng cách này cho thấy một vấn đề cần nhìn thẳng: Năng lực đổi mới sáng tạo của nền kinh tế đã được cải thiện, nhưng khả năng chuyển hóa khoa học, công nghệ thành năng suất, sản phẩm và lợi thế cạnh tranh của từng doanh nghiệp vẫn còn hạn chế. Vì vậy, doanh nghiệp Việt Nam phải chuyển từ tư duy “ứng dụng công nghệ” sang “làm chủ công nghệ”, từ mua giải pháp sang từng bước tạo ra giải pháp, từ gia công sản phẩm sang nghiên cứu, thiết kế và phát triển sản phẩm. Doanh nghiệp phải trở thành trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, chủ động liên kết với trường đại học, viện nghiên cứu, các quỹ đầu tư và mạng lưới chuyên gia. 

Việt Nam đã trở thành một nền kinh tế có độ mở cao, với mạng lưới quan hệ thương mại rộng và năng lực xuất khẩu ngày càng lớn. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 475 tỷ USD. Tuy nhiên, khu vực doanh nghiệp trong nước chỉ chiếm khoảng 22,7% kim ngạch xuất khẩu, trong khi khu vực FDI chiếm khoảng 77,3%. Trong giai đoạn mới, mục tiêu không thể chỉ là mở thêm thị trường cho hàng hóa Việt Nam. Quan trọng hơn là phải nâng vị trí của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị: Từ gia công sang thiết kế, từ sản xuất theo đơn đặt hàng sang sở hữu sản phẩm, từ xuất khẩu sản phẩm sang xây dựng thương hiệu và kiểm soát hệ thống phân phối. Nghị quyết số 198/2025/ QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về phát triển kinh tế tư nhân, việc thúc đẩy chương trình “Go Global” và các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường, công nghệ, vốn, thương hiệu, logistics, pháp lý quốc tế, mua bán-sáp nhập và liên kết với các tập đoàn đa quốc gia mở ra không gian mới để doanh nghiệp Việt Nam chủ động hội nhập sâu hơn. Từ đó, doanh nghiệp Việt cần tiến từng bước từ “Made in Vietnam” đến “Designed in Vietnam”, “Created in Vietnam” và “Branded by Vietnam”. Muốn làm được điều đó, phải nâng cao năng lực thiết kế, tiêu chuẩn hóa sản phẩm, bảo hộ sở hữu trí tuệ, xây dựng thương hiệu quốc tế, quản trị chuỗi cung ứng, marketing toàn cầu và phòng vệ thương mại. 

Sản xuất bảng mạch, thiết bị bảng mạch điện tử ở Công ty Trách nhiệm hữu hạn Doosan Electro-Materials Việt Nam (FDI Hàn Quốc) tại thành phố Hải Phòng. (Ảnh: ĐĂNG ANH)

Sản xuất bảng mạch, thiết bị bảng mạch điện tử ở Công ty Trách nhiệm hữu hạn Doosan Electro-Materials Việt Nam (FDI Hàn Quốc) tại thành phố Hải Phòng. (Ảnh: ĐĂNG ANH)

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì gặp mặt đại biểu doanh nghiệp tiêu biểu. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì gặp mặt đại biểu doanh nghiệp tiêu biểu. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)

Đặc biệt, xây dựng thế hệ doanh nhân mới có tầm nhìn toàn cầu, bản lĩnh dân tộc và văn hóa kinh doanh hiện đại đòi hỏi mọi chiến lược phát triển doanh nghiệp đều quy về một yếu tố trung tâm: Con người. Công nghệ có thể mua, vốn có thể huy động, thị trường có thể mở rộng, nhưng tầm nhìn, bản lĩnh, đạo đức và năng lực lãnh đạo của doanh nhân không thể hình thành trong ngày một ngày hai. Theo tinh thần của Nghị quyết số 41-NQ/TW, Việt Nam phấn đấu ngày càng có nhiều doanh nghiệp đạt tầm khu vực, một số doanh nghiệp đạt tầm thế giới. Doanh nhân Việt Nam trong kỷ nguyên mới phải có tầm nhìn toàn cầu nhưng bản lĩnh dân tộc; tư duy thị trường nhưng trách nhiệm xã hội; năng lực quản trị hiện đại nhưng giữ vững đạo đức kinh doanh. Thành công của doanh nghiệp không chỉ được đo bằng doanh thu, lợi nhuận hay quy mô tài sản, mà còn bằng khả năng tạo việc làm, phát triển nguồn nhân lực, đổi mới sáng tạo, bảo vệ môi trường, thực hiện trách nhiệm xã hội và góp phần nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Trong bối cảnh các tiêu chuẩn về phát triển xanh, quản trị doanh nghiệp, trách nhiệm xã hội, minh bạch và ESG ngày càng trở thành điều kiện của thị trường toàn cầu, văn hóa kinh doanh không còn là yếu tố “mềm”, mà ngày càng trở thành một bộ phận cấu thành năng lực cạnh tranh. Do đó, xây dựng doanh nhân tầm vóc toàn cầu không chỉ là đào tạo thêm kỹ năng quản trị hay kiến thức thị trường quốc tế. Quan trọng hơn là hình thành một văn hóa doanh nhân mới: Dám nghĩ lớn, dám đầu tư dài hạn, dám đổi mới, dám cạnh tranh và dám chịu trách nhiệm. 

Xây dựng đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong kỷ nguyên mới không chỉ để có thêm nhiều doanh nghiệp, mà phải có những doanh nghiệp Việt Nam đủ lớn, đủ mạnh, đủ sáng tạo, đủ bản lĩnh để cạnh tranh và từng bước dẫn dắt ở những lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược. Đó không thể là một phong trào ngắn hạn hay một chương trình hỗ trợ đơn lẻ mà là một quá trình chuyển đổi có tính hệ thống, trong đó thể chế mở đường, khoa học-công nghệ tạo động lực, thị trường quốc tế tạo không gian, doanh nghiệp đầu đàn tạo sức kéo và đội ngũ doanh nhân quyết định khả năng biến cơ hội thành kết quả. Khát vọng vươn lên chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh; năng lực cạnh tranh chỉ thực sự có ý nghĩa khi tạo ra vị thế; và vị thế của doanh nghiệp cuối cùng phải góp phần nâng cao vị thế của nền kinh tế và quốc gia. 

Tác giả: TRẦN MAI HƯƠNG
Ảnh: Báo Nhân Dân
Trình bày: Vũ Anh Tuấn