81 NĂM CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ QUỐC KHÁNH 2/9

Việt Nam từ khát vọng độc lập đến khát vọng hùng cường

Tháng Tám năm 1945, dân tộc Việt Nam đứng lên giành quyền tự quyết bằng hai giá trị thiêng liêng: Độc lập và tự do. 81 năm sau, với 40 năm đổi mới, dân tộc ta đã đi một chặng đường dài, từ nền kinh tế tập trung, bao cấp đến khát vọng xây dựng một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng.

Một góc Thủ đô Hà Nội. (Ảnh: BÙI NGỌC CƯỜNG)
Một góc Thủ đô Hà Nội. (Ảnh: BÙI NGỌC CƯỜNG)

Khát vọng về một Việt Nam hùng cường đang đứng trước ngưỡng phát triển mới: Khi các động lực tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động giá rẻ và mở rộng đầu vào dần chạm giới hạn; khi tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp có dấu hiệu chậm lại; và khi cạnh tranh công nghệ, bất định kinh tế cùng căng thẳng địa chính trị toàn cầu ngày càng gay gắt, khiến yêu cầu đổi mới mô hình phát triển trở nên cấp thiết.

Nền móng thể chế đột phá cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh đó, các nghị quyết có tính đột phá về thể chế được Bộ Chính trị ban hành liên tục và có hệ thống từ cuối năm 2024 đến nay đã mở ra một xung lực cải cách mới: Tháo gỡ những rào cản phát triển, giải phóng sức sản xuất, khơi thông các nguồn lực và kiến tạo nền tảng cho một mô hình tăng trưởng mới, để Việt Nam tự tin bước vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.

Nếu hành trình mùa thu độc lập năm 1945 giải quyết bài toán về quyền tự quyết dân tộc, thì hành trình phát triển của Việt Nam hôm nay đang đối diện một bài toán khác: Làm sao để một nền kinh tế quy mô trung bình, thu nhập trung bình thấp có thể bứt phá, tránh rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” mà ít quốc gia đang phát triển vượt qua được. Sau hàng chục năm tăng trưởng dựa trên tích lũy vốn, mở rộng lao động giá rẻ và xuất khẩu thâm dụng tài nguyên, các động lực truyền thống ấy đang bộc lộ giới hạn rõ rệt trước yêu cầu của một giai đoạn phát triển mới. Điều này không nằm ngoài dự báo của lý thuyết tăng trưởng từ mô hình tân cổ điển.

Mô hình Solow giải thích tăng trưởng kinh tế dựa trên tích lũy vốn, gia tăng lao động và tiến bộ công nghệ, nhưng xem tốc độ tăng công nghệ là yếu tố bên ngoài. Cấp tiến hơn, các lý thuyết tăng trưởng nội sinh sau này khẳng định yếu tố công nghệ, đổi mới sáng tạo và vốn con người mới là động lực quyết định cho tăng trưởng dài hạn.

Trước đòi hỏi đó, Đại hội XIV của Đảng đã mở ra nhiệm kỳ 2026-2031 với yêu cầu về một cuộc cải cách mang tính hệ thống thay vì những điều chỉnh chính sách đơn lẻ, hướng thẳng vào những điểm nghẽn cụ thể của mô hình tăng trưởng cũ. Có thể xem đây là cách tiếp cận “kiến trúc thể chế” đồng bộ, được thiết kế có nền tảng khoa học bài bản để phản ứng kịp thời với những đòi hỏi khách quan của thực tiễn phát triển hơn là biểu hiện của một ý chí chủ quan.

Từ cuối năm 2024 đến nay, loạt nghị quyết trụ cột đã được Bộ Chính trị ban hành, hiện thực hóa khát vọng hùng cường, đưa nước ta trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Đó là Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.

Bên cạnh đó, hai trụ cột chiến lược tạo động lực tăng trưởng và quốc gia thịnh vượng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cũng đã được xác định: Kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước) và kinh tế tư nhân (Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân). Nghị quyết số 68 xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của tăng trưởng, trong khi Nghị quyết số 79 khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, thực hiện chức năng dẫn dắt và điều tiết nền kinh tế.

Các nghị quyết gắn bó hữu cơ trong một chỉnh thể: Hành lang thể chế theo Nghị quyết số 66 mở đường cho kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79) và kinh tế tư nhân (Nghị quyết số 68) phát triển; khu vực tư nhân trở thành đầu tàu ứng dụng khoa học, đổi mới sáng tạo (Nghị quyết số 57), qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh khi hội nhập quốc tế (Nghị quyết số 59). Cách tiếp cận này cũng tương thích với nhiều kết quả nghiên cứu quốc tế về tăng trưởng và phát triển kinh tế: Thượng tôn pháp luật, đầu tư và độ mở thương mại là những yếu tố thúc đẩy tăng trưởng mạnh mẽ. Đồng thời, chất lượng thể chế chính là nền tảng chi phối hầu hết các yếu tố nội sinh khác của tăng trưởng.

Bước chuyển chiến lược, tầm nhìn thế kỷ

Ngày 28/7/2026, Nghị quyết số 19-NQ/TW của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam được ban hành với năm quan điểm chỉ đạo, cho thấy ba chuyển dịch lớn trong tư duy phát triển.

Trước hết là chuyển dịch về động lực tăng trưởng, từ phụ thuộc nhiều vào mở rộng vốn, lao động và các yếu tố đầu vào sang dựa ngày càng nhiều hơn vào khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và chất lượng nguồn nhân lực.

Thứ hai là chuyển dịch về phương thức quản trị, từ tư duy thiên về “quản lý, kiểm soát” sang “kiến tạo, dẫn dắt phát triển”, đồng thời vận hành hài hòa mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội. Thứ ba là chuyển dịch trong cách huy động nguồn lực, kết hợp nội lực và ngoại lực, trong đó nội lực giữ vai trò quyết định và ngoại lực tạo thêm những đột phá cho phát triển.

Những chuyển dịch này hướng tới một lộ trình dài hạn. Đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu hoàn thành các nền tảng của mô hình phát triển mới, tạo đột phá về thể chế, quản trị quốc gia, khoa học-công nghệ, hạ tầng chiến lược và nguồn nhân lực chất lượng cao. Đến năm 2045, mục tiêu là trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao với mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập sâu rộng. Xa hơn, nghị quyết đặt tầm nhìn tạo lập nền tảng cho 100 năm phát triển tiếp theo của đất nước, giai đoạn 2030-2130.

Điểm cốt lõi không chỉ là huy động thêm nguồn lực, mà là nâng cao hiệu quả sử dụng và phân bổ các nguồn lực đó. Vì vậy, trọng tâm là cải cách hệ thống tài chính, nâng hạng thị trường chứng khoán và tín nhiệm quốc gia, cấu trúc lại phân bổ nguồn lực công. Quá trình này cộng hưởng với các quyết sách lớn về thể chế đất đai (Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan) và không gian kinh tế biển (Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam thành quốc gia biển mạnh). Đây cũng là điểm được nhiều nhà kinh tế học nhấn mạnh đầu tư công, nếu tập trung vào các dự án trọng điểm có tác động lan tỏa lớn thay vì dàn trải, sẽ là đòn bẩy quan trọng cho tăng trưởng.

Nhìn lại toàn cảnh, có thể thấy một chỉnh thể chính sách ngày càng rõ nét: “Bộ tứ trụ cột” đặt nền móng thể chế, Nghị quyết số 19-NQ/TW tiếp tục định hình mô hình phát triển quốc gia với tầm nhìn đến năm 2045 và xa hơn. Nhưng khát vọng hùng cường chỉ thật sự trở thành hiện thực khi những quyết sách ấy được chuyển hóa thành năng suất cao hơn, doanh nghiệp mạnh hơn, nguồn lực được phân bổ hiệu quả hơn và chất lượng cuộc sống của người dân tốt hơn.

81 năm trước, khát vọng lớn nhất của dân tộc Việt Nam là giành lấy độc lập, tự do và quyền tự quyết định tương lai. Khát vọng ấy đến hôm nay được tiếp nối, trong một chuỗi cải cách thể chế mạch lạc và nhất quán, hướng đến mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

81 năm trước, khát vọng lớn nhất của dân tộc Việt Nam là giành lấy độc lập, tự do và quyền tự quyết định tương lai. Khát vọng ấy đến hôm nay được tiếp nối, trong một chuỗi cải cách thể chế mạch lạc và nhất quán, hướng đến mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Sợi chỉ xuyên suốt từ mùa thu độc lập đến kỷ nguyên phát triển vẫn là ý chí làm chủ vận mệnh của dân tộc Việt Nam. Khác chăng, hành trình ấy giờ đây được dẫn dắt bằng một tư duy và tầm nhìn cải cách ngày càng bài bản, khoa học và nhất quán. Đó là cơ sở để tin rằng khát vọng hùng cường của Việt Nam không chỉ là ước vọng, mà đang trở thành một xu thế tất yếu và từng bước được hiện thực hóa.

Có thể bạn quan tâm