Phóng viên Mỹ Joseph L. Galloway:

Việt Nam ngày nay khác xa khi chiến tranh bắt đầu và kết thúc

Hãng tin Mỹ Knight Ridder hôm qua đăng bài của phóng viên Joseph L. Galloway - người đã từng đưa tin về cuộc chiến tranh chống Mỹ của Việt Nam - với tiêu đề Việt Nam ngày nay khác xa khi chiến tranh bắt đầu và kết thúc, ghi lại cảm nhận của ông về những đổi thay ở Việt Nam.

Tuy đã trải qua bao nhiêu năm tháng, nhưng Sài Gòn vẫn còn mãi trong tôi, nơi mà tôi đã đặt chân đến cách đây 40 năm để đưa tin về một cuộc chiến tranh mà thực sự chiếm phần lớn thời trai trẻ của tôi và sự trong trắng của đất nước tôi trước khi cuộc chiến kết thúc trong cảnh hỗn loạn cay đắng cách đây 30 năm.

Những đường phố thân quen cũ vẫn còn đây, nhưng giờ đây dọc hai bên đường là những cửa hàng lớn, nhỏ, thanh lịch chứ không còn là những quán ba ủ rũ nơi có những cô gái mảnh mai từng dỗ ngon dỗ ngọt những anh lính Mỹ cao to uống “trà Sài Gòn” với cái giá cắt cổ.

Giao thông đông đúc hơn với những chiếc mô tô đã thay thế những chiếc xe đạp và xích lô (phương tiện giao thông không được phép vào trung tâm thành phố). Khách bộ hành dường như khá mạo hiểm khi đi ngang qua một đường phố đầy xe mô tô chạy qua, nhưng đó lại là một điệu múa được dàn dựng cẩn trọng. Có những quy tắc đối với người đi bộ khi ngang qua đường: Không được chạy. Không được cố đi lắt léo. Chỉ đi chậm hướng về phía trước và những chiếc xe mô tô này sẽ tránh họ.

Người Việt Nam vẫn là những con người miệt mài lao động nhất mà tôi từng biết, họ năng động và quyết tâm cao. Trong đó, phần lớn - hơn 60%, dưới 30 tuổi, và họ chỉ biết về cuộc chiến tranh này qua những cuốn sách lịch sử.

Đất nước và con người Việt Nam giờ đây khác xa với khi chúng tôi đến và ra đi. Ở các thành phố, các tòa nhà cũ màu vàng có từ thời trước đây đã được cải tạo lại. Các tòa tháp văn phòng và các khách sạn cao tầng đứng bên cạnh những căn nhà cổ. Các cần trục có ở mọi nơi tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh nơi các công trình xây dựng đang hình thành trên mọi khu đất còn trống.

Hoạt động kinh doanh đang diễn ra tốt đẹp ở Việt Nam. Năm 2004, kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng 7,7%.

Kim ngạch buôn bán hai chiều giữa Việt Nam và Mỹ đạt 6 tỷ USD mỗi năm. Kim ngạch buôn bán với nước láng giềng Trung Quốc cũng đạt 6 tỷ USD mỗi năm. Một nhà máy Honda đặt tại Việt Nam lắp ráp hàng triệu xe mô tô bán ra trên khắp cả nước với mức giá khoảng 1000 – 2000 USD.

Điều mà chúng tôi gọi là cuộc chiến tranh Việt Nam thì người Việt Nam lại gọi là cuộc chiến tranh của người Mỹ. Cuộc chiến tranh này chỉ chiếm một đoạn nhỏ trong sách lịch sử được giảng dạy ở những trường phổ thông tại Việt Nam hiện nay. Nhưng một cửa hàng sách lớn, đông khách nằm trên đường phố mà dưới thời Sài Gòn trước đây có tên gọi là phố Tự Do, vẫn có đầy sách về cuộc chiến tranh này và tiểu sử của một vài vị tướng Việt Nam có tài thao lược, như tướng Nguyễn Hữu An, người từng chỉ huy bộ đội Việt Nam tiêu diệt chúng tôi tại thung lũng Ia Drang trong những ngày thê thảm tháng 11-1965.

Một người bạn và là một nhà văn, Phil Caputo đã đề tặng tôi quyển sách của anh có tựa đề Lời đồn về cuộc chiến tranh như sau: “Như một tướng Pháp đã từng nói với một ai đó, “Cuộc chiến tranh này là một điều bí mật thời trẻ của chúng ta và không thể chôn vùi được”. Khi đó, vào những năm 70 của thế kỷ trước, cả hai chúng tôi đều biết chính xác vị tướng người Pháp đó muốn nói gì.

Điều dường như rất đơn giản và dễ hiểu khi chúng tôi bắt đầu tới Việt Nam cùng với tiểu đoàn lính thủy đánh bộ đầu tiên của Mỹ tại thành phố cảng Đà Nẵng, đó là chúng tôi là một cường quốc hiện đại muốn ngăn chặn sự lan rộng cả chủ nghĩa cộng sản ở một nước Thế giới thứ ba.

Cuộc chiến lúc đầu có vẻ diễn ra suôn sẻ, nhưng sau đó ngày càng phức tạp và tốn kém hơn so với mức độ mà “các kiến trúc sư” cuộc chiến này dự kiến.

Cuộc chiến này đã ám ảnh phần lớn nhiệm kỳ tổng thống của ông Lyndon B. Johnson, người đã điều những binh lính Mỹ tới Việt Nam. Nó cũng dẫn đến những cuộc biểu tình trên các đường phố ở Mỹ và tước đi chức tổng thống của ông Richard Nixon, người kế nhiệm ông Johnson. Vị tổng thống thứ ba, Gerald Ford, đã thừa hưởng một cuộc chiến bị ruồng bỏ và đã kết thúc trong sự hỗn loạn và thảm bại dưới sự chứng kiến của ông.

Cuộc chiến này đã mang lại cho tôi những người bạn tốt nhất, và một vài người trong số họ đã vĩnh viễn ra đi trên chiến trường Việt Nam. Tôi vẫn còn nhớ như in những khuôn mặt của họ.

Tôi vẫn nghĩ về 66 đồng nghiệp của tôi đã nằm xuống trong chiến tranh. Họ đã phản ánh thực tế cuộc chiến tới nước Mỹ và toàn thế giới.

Tôi cũng nghĩ về những binh lính Mỹ trẻ tuổi đã chết chung quanh tôi tại thung lũng Ia Drang, Plây Cu và ở những nơi khác trong một cuộc chiến mà dường như không bao giờ mất đi trong ký ức và trái tim của tôi.

Trong đó, có Jim Nakayama, người có rất nhiều lý do để sống. Vợ của anh, Cathy, sinh con gái, Nikki, chỉ hai ngày trước khi anh qua đời ngày 15-11-1965.

Và, tôi cũng nhớ về những người ở phía bên kia, như tướng An, người đã từng chỉ huy trận đánh ở thung lũng Ia Drang. Nhiều năm sau đó, năm 1993, ông cùng một số sĩ quan Việt Nam đã trở lại chiến trường xưa cùng với chúng tôi, đi trên mảnh đất từng thấm đẫm máu và tất cả chúng tôi đã tiếc thương những người đã ngã xuống, cả người Việt Nam lẫn người Mỹ.

Một năm sau đó, tướng An đã qua đời vì bệnh tim.

Tôi cũng nghĩ về một thiếu tá Việt Nam đã từng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, chỉ huy một tiểu đội ở thung lũng Ia Drang, và sau đó chỉ huy một sư đoàn trong trận tấn công cuối cùng giải phóng Sài Gòn.

Khi chúng tôi tới chiến trường xưa, ông vỗ vào ngực tôi và nói: “Anh có một trái tim của một người lính. Nó cũng giống như tôi. Tôi mừng vì đã không giết anh”.

Tôi cũng vậy, thưa thiếu tá. Tôi cũng vậy.

Và tôi vui mừng vì hòa bình và sự thịnh vượng cuối cùng đã đến với Việt Nam và người dân Việt Nam sau một nghìn năm chiến tranh. Chiến tranh chỉ còn là những ký ức.

----------------------------

Phóng viên Joseph L. Galloway, 63 tuổi, sinh tại Refugio, Texas (Mỹ) hiện làm cho Hãng tin Knight Ridder của Mỹ. Ông làm báo từ năm 19 tuổi, tháng 4-1965 lần đầu tiên sang chiến trường Việt Nam. 22 năm là phóng viên chiến trường cho hãng thông tấn United Press International, Galloway còn có mặt trong chiến tranh Pakistan - Ấn Độ (1971), chiến tranh vùng Vịnh (1990-1991).

Năm 1998, Galloway được quân đội Mỹ trao tặng Huy chương Bronze Star vì đã tham gia cứu những binh lính bị thương trong trận chiến ở thung lũng Ia Drang tháng 11 – 1965. Phóng viên Galloway là người duy nhất ngoài quân đội được trao huy chương này.

Có thể bạn quan tâm