1. Cơ quan THA nơi tổ chức thi hành vụ việc là cơ quan thu phí THA (cơ quan thu phí).
2. Khi nộp đơn yêu cầu THA, người được THA có đơn yêu cầu THA chưa phải nộp phí THA. Cơ quan thu phí chỉ được thu phí THA khi chi trả tiền hoặc tài sản được THA cho người được THA, cụ thể như sau:
- Trường hợp chi trả tiền: Khi chi trả, cơ quan thu phí được trích lại số tiền phí THA mà người được THA phải nộp và số tiền mà người được THA thực nhận.
- Trường hợp giao tài sản: Trong thời hạn không quá 15 ngày làm việc trước ngày dự kiến giao tài sản, cơ quan thu phí có trách nhiệm ra thông báo thu phí THA mà người được THA phải nộp. Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án không tuyên giá trị tài sản hoặc có tuyên nhưng không còn phù hợp với giá thị trường thì cơ quan thu phí lập hội đồng định giá tài sản để xác định phí THA phải nộp của người được THA. Trong trường hợp khi giao tài sản mà người được THA chưa nộp phí THA, cơ quan thu phí có thể kê biên, phong tỏa tài sản đã giao cho người được THA và ấn định thời hạn không quá 15 ngày kể từ ngày giao tài sản để người được THA nộp phí THA. Nếu quá thời hạn trên, người được THA không nộp phí THA thì cơ quan thu phí có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế để THA, bao gồm cả việc bán đấu giá tài sản đã giao cho người được THA để bảo đảm thu hồi tiền phí THA: Việc định giá, định giá lại tài sản và bán đấu giá tài sản để thu hồi tiền phí THA được thực hiện theo quy định của pháp luật về định giá, bán đấu giá tài sản để THA.
- Khi thu phí, cơ quan thu phí phải lập và cấp biên lai thu cho đối tượng nộp phí theo quy định hiện hành của Bộ Tài chính về phát hành, quản lý, sử dụng ấn chỉ thuế.
3. Đối với các vụ án chia tài sản chung, chia thừa kế, chia tài sản trong ly hôn (chỉ cần có một trong các bên có đơn yêu cầu THA), người nhận tài sản phải nộp phí THA tương ứng với giá trị tài sản thực nhận tính trên tổng số tiền phí THA phải nộp của các bên.
Thí dụ cụ thể như sau: Có 3 người được chia thừa kế một tài sản có giá trị 1 tỷ đồng. Người thứ nhất được nhận 20% giá trị tài sản. Người thứ hai được nhận 30% giá trị tài sản. Người thứ ba được nhận 50% giá trị tài sản. Số phí THA phải nộp của từng người theo quy định trên được xác định như sau:
- Xác định tổng số phí phải nộp của các bên:
= 18 triệu đồng + 2% x 500 triệu đồng
= 18 triệu đồng + 10 triệu đồng.
= 28 triệu đồng.
- Xác định số phí THA phải nộp của từng người:
+ Người thứ nhất phải nộp: 20% x 28 triệu đồng = 5,6 triệu đồng
+ Người thứ hai phải nộp = 30% x 28 triệu đồng = 8,4 triệu đồng
+ Người thứ ba phải nộp = 50% x 28 triệu đồng: 14 triệu đồng
4. Đối với những vụ việc người được THA đã có đơn yêu cầu THA nhưng sau đó các bên đương sự tự nguyện THA thì thực hiện như sau:
- Nếu người được THA không có đơn rút đơn yêu cầu THA để hai bên tự nguyện THA thì cơ quan thu phí vẫn thu phí THA theo quy định.
- Nếu người được THA có đơn rút đơn yêu cầu THA thì thực hiện như sau:
+ Nếu người được THA có văn bản từ bỏ quyền và lợi ích mà họ được hưởng theo quy định tại khoản 3 Điều 28 của Pháp lệnh THADS 2004 thì cơ quan thu phí không thu phí THA.
+ Nếu người được THA không từ bỏ quyền và lợi ích mà họ được hưởng theo quy định tại khoản 3 Điều 28 của Pháp lệnh THADS 2004 và việc rút đơn thực hiện sau khi có quyết định cưỡng chế THA thì người được THA phải nộp 1/3 số phí THA phải nộp như của trường hợp không rút đơn.
+ Nếu người được THA không từ bỏ quyền và lợi ích mà họ được hưởng theo quy định tại khoản 3 Điều 28 của Pháp lệnh THADS 2004 và việc rút đơn thực hiện sau khi cơ quan THA đã thực hiện xong việc cưỡng chế, chi trả hoặc giao cho người được THA, thì cơ quan thu phí vẫn thu phí THA theo quy định.
5. Đối với những vụ việc mà theo bản án, quyết định của Tòa án, người được THA được thi hành số tiền hoặc tài sản có giá trị từ trên 1.000.000 đồng trở lên nhưng người được THA có yêu cầu THA khác với số tiền hoặc tài sản được THA thì thực hiện như sau:
- Trường hợp người được THA chỉ yêu cầu THA với số tiền hoặc tài sản có giá trị từ 1.000.000 đồng trở xuống thì không phải nộp phí THA.
- Trường hợp người được THA yêu cầu thành nhiều lần với tổng số tiền hoặc giá trị tài sản yêu cầu có giá trị từ trên 1.000.000 đồng thì số phí THA được tính trên tổng số tiền hoặc giá trị tài sản được nhận. Số phí THA phải nộp của từng lần được THA được xác định tương ứng với số tiền hoặc giá trị tài sản thực nhận từng lần, tương tự như cách tính phí THA phải nộp trong trường hợp chia tài sản chung, chia thừa kế, chia tài sản trong ly hôn nêu trên.
6. Trường hợp cơ quan THA đã thi hành được tiền, tài sản nhưng phải chi trả cho người được THA thành nhiều lần theo quy định của pháp luật thì số phí THA phải nộp được tính trên tổng số tiền, giá trị tài sản thực nhận. Số phí THA phải nộp của từng lần được THA được xác định tương ứng với số tiền hoặc giá trị tài sản thực nhận từng lần, tương tự như cách tính phí THA phải nộp trong trường hợp chia tài sản chung, chia thừa kế chia tài sản trong ly hôn.
7. Trong trường hợp có sự nhầm lẫn về số phí thi hành án phải nộp, thì phí thi hành án được tính toán lại theo quy định và người được thi hành án phải nộp thêm nếu số phí thi hành án đã nộp thấp hơn số phí thi hành án được xác định lại hoặc người được thi hành án được trả lại phần còn thừa nếu số phí thi hành án đã nộp cao hơn số phí thi hành án được xác định lại.
Cơ quan thu phí có trách nhiệm thu bổ sung khoản phí mà người được thi hành án nộp còn thiếu hoặc làm thủ tục hoàn trả khoản phí thi hành án mà người được thi hành án nộp thừa. Nếu người được thi hành án không tự nguyện nộp khoản phí thi hành án còn thiếu, thì cơ quan thi hành án có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án để thu bổ sung khoản phí thi hành án còn thiếu.
8. Phí thi hành án là khoản thu nộp ngân sách nhà nước, được quản lý, sử dụng như sau:
a. Cơ quan thu phí được trích 70% số tiền phí thu được để trang trải chi phí hỗ trợ cho việc thi hành án và thu phí. Việc sử dụng cụ thể như sau:
- Cơ quan thu phí được sử dụng 50% số tiền phí thu được để chi theo các nội dung sau:
+ Chi trả các khoản tiền thù lao, tiền công, các khoản phụ cấp, các khoản đóng góp theo chế độ hiện hành cho những người tham gia vào hoạt động thi hành án (trừ lương cho cán bộ, công chức đã hưởng lương từ ngân sách nhà nước theo chế độ quy định); chi bồi dưỡng cho cán bộ của ngành, các cấp trong việc phối hợp để thi hành án.
+ Chi trực tiếp phục vụ cho việc thi hành án và thu phí như: Văn phòng phẩm, vật tư văn phòng, điện thoại, điện, nước, công tác phí, công vụ phí theo tiêu chuẩn, định mức hiện hành.
+ Chi sửa chữa thường xuyên, sửa chữa lớn tài sản, máy móc, thiết bị phục vụ trực tiếp cho công tác thi hành án thu phí.
+ Chi mua sắm vật tư, nguyên liệu, hội nghị tổng kết, sơ kết, tập huấn, chỉ đạo nghiệp vụ và các khoản chi khác liên quan trực tiếp đến việc thi hành án và thu phí.
+ Chi khen thưởng, phúc lợi cho cán bộ, công chức cơ quan thi hành án và thu phí theo nguyên tắc bình quân một năm, một người tối đa không quá 3 tháng lương thực hiện nếu số thu năm nay cao hơn năm trước và bằng 2 tháng lương thực hiện nếu số thu năm nay thấp hơn hoặc bằng năm trước.
Cơ quan thu phí được mở tài khoản "tạm giữ tiền phí" tại Kho bạc Nhà nước nơi thu để theo dõi, quản lý tiền phí thi hành án. Căn cứ vào tình hình thu phí (số tiền thu được nhiều hay ít, nơi thu phí xa hay gần Kho bạc Nhà nước mà định kỳ hằng ngày hoặc hằng tuần, cơ quan thu phí phải gửi số tiền phí thi hành án đã thu được trong kỳ vào tài khoản tạm giữ tiền phí và phải tổ chức hạch toán riêng khoản thu này theo chế độ kế toán đơn vị hành chính sự nghiệp.
Cơ quan thu phí có trách nhiệm nộp 20% số tiền phí thu được vào tài khoản của Cục Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp (hoặc Cục Thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng đối với cơ quan thu phí là cơ quan thi hành án quân khu và tương đương) tại Kho bạc Nhà nước cùng thời gian với việc nộp tiền phí thu được vào tài khoản tạm giữ tiền phí để Cục Thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp (hoặc Cục Thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng) điều hòa cho các cơ quan thu phí ở những nơi tiền phí thu được không bảo đảm đủ kinh phí hoạt động theo những nội dung chi nêu trên. Nhưng số chi hằng năm không vượt quá 5% tính trên tổng số tiền phí thi hành án do các đơn vị nộp về.
- Hằng năm cơ quan thu phí phải quyết toán thu chi theo thực tế. Sau khi quyết toán đúng chế độ, số tiền phí chưa chi trong năm được phép chuyển sang năm sau để tiếp tục chi theo chế độ quy định. Tiền phí để lại cho cơ quan thu phí này không phản ánh vào ngân sách nhà nước.
b. Cơ quan thu phí có trách nhiệm kê khai, nộp và quyết toán số tiền phí còn lại (30%) vào ngân sách nhà nước theo chương, loại, khoản tương ứng, mục 044, tiểu mục 14 của Mục lục ngân sách nhà nước hiện hành.
9. Trường hợp người được thi hành án không nộp phí thi hành án thì sẽ bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
10. Các vấn đề khác liên quan đến việc thu, nộp, quản lý, sử dụng, công khai chế độ thu phí, quyết toán phí không đề cập tại thông tư này được thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 63/2002/TT-BTC ngày 24-7-2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện các quy định pháp luật về phí và lệ phí.
11. Đối với các trường hợp đã tạm thu trước đây với mức cao hơn mức thu quy định tại Thông tư này thì thực hiện thu, nộp phí theo mức quy định tại thông tư này.