Vị thế hạt giống ngô lai Việt Nam

Vị thế hạt giống ngô lai Việt Nam

Thế trận lòng dân

Ngày 30-5-1988, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quyết định chuyển Trung tâm nghiên cứu ngô Sông Bôi thành Viện nghiên cứu ngô. Trước đó, các cán bộ của Trung tâm Sông Bôi đã kịp tạo ra 13 giống ngô thuần thụ phấn tự do, có sức chống chịu tốt gồm TH 2A, TH2B, VN1, CV1, Q2, góp phần đưa năng suất ngô lên 1,55 tấn/ha, sản lượng 641 nghìn tấn.

Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm và thực tiễn của nông dân, công trình ngô đông trồng bầu trên nền đất ướt từ năm 1982 đến năm 1987 đã thành công. Ngô là cây sống trên cạn, không chịu được úng ngập, nhưng các nhà khoa học cùng nông dân đã giải quyết trọn vẹn về khoa học, công nghệ và thực tiễn để ngô vẫn phát triển tốt trên nền đất ướt, cho năng suất cao 5-7 tấn/ha.

Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp LHQ (FAO) và Trung tâm cải tạo giống ngô và lúa mì quốc tế (CIMMYT) đã đánh giá đây là công trình khoa học xuất sắc của người Việt Nam. Công trình này chứng minh hiệu quả của nó bằng con số 200 nghìn tấn ngô đông mỗi năm, cơ bản giải quyết vấn đề lương thực cho nông dân.

Tính mốc xuất phát điểm năm 1990, từ khi Viện nghiên cứu ngô ra đời, tỷ lệ trồng ngô lai lúc đó vẫn là 0%, thị phần ngô lai hoàn toàn do các công ty giống nước ngoài nắm giữ. Trước sự cạnh tranh khốc liệt, chỉ còn cách vươn lên, với định hướng, chiến lược chính xác, chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất nhanh chóng, có sức cạnh tranh để làm chủ khoa học, trở thành đối trọng với các công ty nước ngoài, thay vì đi làm thuê cho họ. Giá giống ngô lai của nước ngoài lúc đó ở mức ba USD/kg, quá cao so với điều kiện của phần lớn nông dân.

"Trèo lên vai người khổng lồ để biến mình thành người khổng lồ hơn", phương pháp lai giữa giống thuần với giống lai nước ngoài do Viện thực hiện, đã tạo ra bộ giống lai không quy ước từ LS3 đến LS8, chinh phục bà con nông dân một cách dễ dàng. Ưu điểm của bộ giống này là năng suất không thua kém mấy so các giống lai đơn và lai kép của nước ngoài, nhưng giá chỉ bằng 1/4, hơn nữa còn có lợi thế để giống được. Đây là bước "quá độ" giúp nông dân làm quen với ngô lai, trước khi các giống  lai quy ước được đưa vào sản xuất.

Một loạt các giống ngô lai quy ước như LVN10, LVN4, LVN20, LVN23 thích nghi nhiều vùng sinh thái, kháng sâu bệnh, năng suất cao (6-10 tấn/ha), giá giống chỉ bằng 60% so giống nước ngoài được đưa vào sản xuất đại trà, tăng tỷ trọng ngô lai từ 0% lên 60%, năng suất tăng từ 1,55 tấn/ha lên 2,8 tấn/ha, sản lượng đạt 2,3 triệu tấn (năm 2000). Năm vừa qua, diện tích ngô cả nước khoảng 900 nghìn ha, sản lượng đạt gần ba triệu tấn, tăng 928 nghìn tấn so với năm 2000.

Trong chuyển giao kết quả nghiên cứu trên phạm vi cả nước, Viện nghiên cứu ngô đã tiến hành theo hình thức hợp đồng kinh tế với các công ty giống cây trồng từ trung ương tới địa phương, hợp đồng và bao tiêu sản phẩm với các xã, HTX, thôn hoặc nhóm hộ nông dân, kết hợp hệ thống khuyến nông tập huấn cho hàng trăm nghìn nông dân về quy trình công nghệ sản xuất hạt giống ngô lai.

Theo GS, TSKH, Anh hùng Lao động Trần Hồng Uy, nguyên viện trưởng đánh giá, đây chính là sách lược hiện đại hóa giống ngô lai vào sản xuất, theo quan điểm "kết quả nghiên cứu khoa học là của dân, vì dân và do dân thực hiện", xây dựng hệ thống quản lý và sản xuất hạt giống, hình thành mạng lưới vệ tinh trong toàn quốc.

Ngoài phối hợp các hội, đoàn thể, Viện còn bồi dưỡng các già làng, trưởng bản, các chức sắc tôn giáo như nhà sư Khmer, cha xứ Thiên Chúa giáo, trở thành một kênh chuyển giao tiến bộ kỹ thuật tới nông dân nhanh nhất. Ở Sóc Trăng, đồng bào Khmer đã lấy sân chùa làm điểm học tập quy trình sản xuất ngô lai, còn tại huyện Nghĩa Hưng (Nam Định), sân nhà thờ cũng thành mô hình trình diễn giống LVN10.

Điểm sản xuất giống ở Phúc Sen (huyện Quảng Uyên, Cao Bằng), khi cán bộ của Viện lên chuyển giao quy trình công nghệ sản xuất giống, đồng bào Nùng An ở đây đã "cãi": "Chúng tao trồng ngô bao nhiêu năm rồi có thấy ngô bố, ngô mẹ bao giờ, dưới xuôi chúng mày phức tạp quá!" Thế nhưng sau được hướng dẫn cặn kẽ, họ mới gật gù: "Thế ra ngô cũng có bố, có mẹ, có giao phấn nữa đấy". Và Phúc Sen, ngoài tiếng tăm về nghề rèn, còn nổi danh qua sự sáng tạo, áp dụng kỹ thuật sản xuất hạt giống ngô.

Mỗi năm, từ mạng lưới sản xuất ngô giống trong nhân dân đủ sức làm ra 7.000 tấn hạt giống chất lượng cao, có thể hoàn toàn tự túc về giống ngô lai trong toàn quốc. Khoa học, công nghệ đã đi vào lòng dân, đem lại hiệu quả to lớn, tạo nên một sức mạnh tổng hợp thực hiện cuộc cách mạng về ngô lai.

Chính vì thế, phát biểu khi nhận giải thưởng Hồ Chí Minh, GS, TSKH Trần Hồng Uy đã xúc động bày tỏ: "Tôi chỉ là người thay mặt cho tập thể các nhà khoa học, thay mặt cho hàng triệu người nông dân vô cùng sáng tạo, vinh dự nhận giải thưởng lớn lao này. Tôi chỉ là hình ảnh của họ và không có quyền nhận riêng về mình...".

Những chương trình mũi nhọn

Nước ta có thuận lợi là ở đâu cũng có thể sản xuất ngô. Trên đất Tây Bắc ngút ngàn nắng lửa và gió khô nóng đến chảy máu mũi, nhưng ven sườn núi, ngô lai vẫn căng mướt sức sống. Mỗi mùa thu hoạch, xe tải nối đuôi nhau kìn kìn chở ngô về xuôi. Địa bàn huyện Mai Sơn (Sơn La) mà tiêu điểm là xã Cò Nòi, giống LVN10 giữ vị trí độc tôn trong sản xuất, đến mức "không còn giống ngô nào khác để đối chứng". Người dân chẳng cần giống khác đối chứng làm gì, chỉ cần thứ giống đem lại ô-tô, xe máy, máy thu hình trong nhà là đủ.

Vượt dốc, băng rừng vào một số xã vùng sâu của huyện Mường La, chúng tôi gặp bà Lò Thị Gianh dân tộc Thái, không biết tiếng Kinh, không biết cả tuổi của mình, nhưng khi được hỏi về nương ngô LVN10 mập mạp gần nhà, bà đã trả lời rành rẽ: "Khẩu ly Chính phủ hảũ pụk ló" (có nghĩa: Đây là giống ngô mới của Chính phủ mang về cho dân trồng).

Tôi nhớ mãi bữa ăn đậm đà "chất" vùng cao tại huyện Yên Minh (Hà Giang) cách đây hai năm, vẫn chỉ là mèn mén, rượu ngô, nhưng đặc biệt là đều làm từ hạt ngô lai chất lượng đạm cao HQ2000 (High Quality). Đây là giống ngô chất lượng đạm cao do Viện nghiên cứu Ngô kết hợp CIMMYT nghiên cứu, chọn tạo, có tiềm năng năng suất cao, hàm lượng prô-tê-in đạt 10 -11%, cao hơn ngô thường 1 - 2%, đặc biệt hai loại a-xít a-min quý hiếm là li-zin và trip-tô-phan gấp hai lần ngô thường. Đồng bào dân tộc Mông ở miền đá tai mèo Yên Minh ăn mèn mén HQ2000 thấy ngon hơn ngô địa phương, đàn ông đi nương có sức cày cả ngày không mỏi, đàn bà nuôi con chóng lớn hơn. HQ2000 "Hay quá"!

Theo các TS Phan Xuân Hào và Mai Xuân Triệu, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Ngô, những giống như HQ2000, LVN10, LVN4, LVN23, VN8960... đã được áp dụng rộng rãi trong sản xuất thời gian qua. Với tập đoàn dòng phong phú, đa dạng, viện tập trung chọn tạo các giống ngắn ngày cho các tỉnh phía nam, giống chịu hạn ở phía bắc, các giống QPM (chất lượng đạm cao), ngô thực phẩm. Một giống QPM mang tên HQ2004 với năng suất cao hơn, sức chống chịu tốt hơn đang được thử nghiệm, chuẩn bị ứng dụng rộng trong sản xuất.

Phương châm nghiên cứu của viện thời gian tới là đi sâu vào công nghệ sinh học, ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại trong chọn tạo giống ngô, đồng thời, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho các tỉnh miền núi phía bắc, làm chủ thị phần và giá cả giống ngô lai với hai tiêu chí: chất lượng cao, giá thành hạ.

Gần 20 giống ngô lai quy ước có chất lượng tốt, năng suất cao, phù hợp các cơ cấu cây trồng, mùa vụ và các vùng sinh thái do viện nghiên cứu, chọn tạo đã được công nhận giống quốc gia và khu vực hóa rộng rãi trong sản xuất. Một số giống do các nhà khoa học của viện nghiên cứu, chọn tạo đã đoạt giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam (VIFOTEX), đoạt huy chương vàng một số triển lãm, hội chợ. Ngoài ra, viện cùng phối hợp các viện chuyên ngành cơ điện nghiên cứu, thiết kế, chế tạo một hệ thống máy sấy, chế biến, đóng gói hạt giống ngô lai với chất lượng cao, giá máy rẻ hơn 40 lần so giá máy nhập khẩu, trang bị hệ thống sấy, chế biến hạt giống trên phạm vi toàn quốc, tiết kiệm lượng ngoại tệ lớn.

Ngô lai Việt Nam bắt đầu tham gia thị trường xuất khẩu từ năm 2000, năm vừa qua, 150 tấn được xuất khẩu sang Lào, Cam-pu-chia, Indonesia và giống HQ2000 được xuất khẩu sang Bangladesh và Ấn Độ, hứa hẹn tiềm năng lớn về thị trường xuất khẩu giống. Từ khi hạt ngô lai được đưa vào sản xuất đến nay, sản lượng ngô tăng bốn lần, năng suất bình quân tăng hai lần, diện tích tăng hai lần.

Cùng cả nước hướng về kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Viện nghiên cứu ngô đã tặng tỉnh Điện Biên 500 kg ngô giống HQ2000, xây dựng mô hình trình diễn 25 ha ngay tại cánh đồng Mường Thanh. Ngoài ra, xúc tiến sản xuất các loại ngô thực phẩm như ngô nếp, ngô đường, ngô rau... đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của du khách. Lên Điện Biên tháng 5 tới, ngoài những đặc sản truyền thống của vùng Tây Bắc như gạo IR 64, măng đắng, cá suối, chắc chắn du khách còn được thưởng thức hương vị mới của vùng Tây Bắc. Đó là những bắp ngô đường ngọt lịm, ngô nếp nướng thơm ngào ngạt bên hàng của các cô gái Thái váy áo xòe sặc sỡ, sẽ khiến du khách thêm ấm lòng khi đêm xuống.

QUANG HƯNG

Có thể bạn quan tâm