Về vụ "phù phép" 700 ha đất ở Bình Dương

Đất cao su “biếu” không các “quan”.
Đất cao su “biếu” không các “quan”.

"Ðường vòng" biến 52,9 ha đất công thành đất tư

Khu đất này thuộc xã An Tây huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương, trước đó do nông trường điều TP Hồ Chí Minh sản xuất, năm 1987 đơn vị này giao lại cho Văn phòng Huyện ủy Bến Cát quản lý. Năm 1996, Văn phòng Huyện ủy Bến Cát nhường lại cho Công ty cao-su Bến Cát là đơn vị Kinh tế Ðảng trực thuộc Văn phòng Tỉnh ủy Bình Dương, với số tiền 300 triệu đồng (song cả hai đơn vị giao và nhận đều không có hồ sơ, chứng từ, sổ sách kế toán theo dõi công nợ theo quy định). Sau đó, Công ty cao-su Bến Cát đã tiến hành trồng cao-su trên toàn bộ diện tích.

"Bước ngoặt" quan trọng diễn ra sau đó, ngày 19-3-2001, Công ty cao-su Bến Cát có tờ trình (không số) gửi Văn phòng Huyện ủy Bến Cát đề nghị nhận lại diện tích 52,9 ha cao-su do Công ty cao-su Bến Cát mới trồng, Văn phòng Huyện ủy trả vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho Công ty cao-su Bến Cát, với số tiền 990 triệu đồng. Ngày 18-5-2001, Công ty cao-su Bến Cát có tờ trình 66/TT.2001 đề nghị Tỉnh ủy bàn giao lại 52,9 ha cao-su cho Văn phòng Huyện ủy Bến Cát và đã được Tỉnh ủy Bình Dương phê duyệt chấp thuận.

Ngày 5-7-2001, UBND huyện Bến Cát có tờ trình số 109/TT-UB đề nghị UBND tỉnh Bình Dương "thu hồi 52,9 ha của Văn phòng Huyện ủy Bến Cát giao cho UBND huyện Bến Cát quản lý để phân bổ cho nhân dân tiếp tục quản lý sử dụng". Ngày 24-7-2001, Sở Ðịa chính Bình Dương có biên bản thẩm tra đất số 580/BBTT đề nghị UBND tỉnh Bình Dương thu hồi khu đất có diện tích 52,9 ha trên của Văn phòng Huyện ủy Bến Cát giao lại cho UBND huyện Bến Cát quản lý sử dụng. Ngày 2-8-2001, UBND tỉnh Bình Dương có Quyết định số 2904/QÐ-CT chấp thuận đề nghị của Sở Ðịa chính. Vậy UBND huyện Bến Cát đã quản lý, sử dụng 52,9 ha đất trên như thế nào?

Về hồ sơ thủ tục, UBND huyện Bến Cát giao đất cho 14 cá nhân. Ngày 5-7-2001 trong Văn bản số 105/TT.UB của UBND huyện Bến Cát gửi Sở Ðịa chính Bình Dương ghi rõ: "UBND huyện Bến Cát trình UBND tỉnh Bình Dương ban hành quyết định thu hồi GCNQSDÐ số 340 ngày 21-11-1994 của Huyện ủy Bến Cát (52,9 ha) giao lại cho UBND huyện Bến Cát quản lý, có kế hoạch phân bổ cho nhân dân sử dụng theo nhu cầu thực tế".

Nhưng sau đó, ngày 6-2-2002, UBND huyện Bến Cát có Văn bản số 91/UB/KT nội dung hoàn toàn khác: "giao cho các ngành chức năng của huyện tổ chức nhận phần đất 52,9 ha... tổ chức cấp cho các đối tượng cán bộ hưu trí theo danh sách đề nghị của Văn phòng Huyện ủy Bến Cát gồm 3 cán bộ hưu trí, 1 cán bộ đang công tác tại UBND huyện, 9 cán bộ công tác tại Huyện ủy.

Ðã thế, khi thực hiện giao cấp đất cho 14 cá nhân thì chỉ có 1 người là cán bộ hưu trí, còn lại 7 người là cán bộ đang công tác tại Huyện ủy và 6 người không có tên trong danh sách, cũng không rõ nghề nghiệp?

Xin nói rõ danh sách các quan chức của huyện. Bến Cát được cấp đất bao gồm: Ông Huỳnh Văn Thu, nguyên Bí thư Huyện ủy 51.309 m2; Lê Văn Quý, Chánh Văn phòng Huyện ủy 28.975 m2; Lê Văn Dắt, Chủ tịch Liên đoàn Lao động huyện 19.908 m2; Huỳnh Văn Tân, lái xe Văn phòng Huyện ủy 20.382 m2; Nguyễn Văn Cư, lái xe 20.403 m2; Trịnh Thị Ngọc Anh kế toán Huyện ủy 20.382 m2; Tô Thị Bích Thủy, cán bộ Ban Tôn giáo UBND huyện 57.354 m2; Nguyễn Văn Quang, nguyên Bí thư Huyện ủy 52.888 m2; Nguyễn Văn Quân (con ông Quang) 26.565 m2; Trương Thị Thạch, Văn thư Huyện ủy 37.683 m2; Mai Thị Liên, Nguyễn Thị Hồng, chưa rõ nghề nghiệp, cũng được chia hơn 50.000 m2; Lê Kim Dung (vợ ông chủ tịch UBND huyện) được 31.878 m2; Lê Bích Thoa (vợ Bí thư Huyện ủy Lê Thành Nhơn) đứng chủ quyền sở hữu đất 67.620 m2.

Ðối chiếu với khoản 4 Ðiều 3, Ðiều 1 và 8 Nghị định 85/CP ngày 28-8-1999, thì việc thu hồi, cấp giao 52,9 ha đất trên của UBND huyện Bến Cát cho 14 cá nhân là hoàn toàn sai, bởi ba lẽ: Văn phòng Huyện ủy không phải là cơ quan chức năng đề nghị xin được cấp đất, mà chỉ có UBND xã, phường, thị trấn mới có chức năng này. Ðối tượng được cấp đất phải là hộ gia đình, cá nhân hộ khẩu thường trú tại địa phương để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp ổn định lâu dài. Ðối với cán bộ hưu trí, hoặc nghỉ mất sức có chế độ trợ cấp thường xuyên, thì chỉ được xét cho thuê đất có thời hạn để sản xuất...

Trao đổi ý kiến với chúng tôi sáng ngày 30-8-2007 về "đường đi" của 52,9 ha đất được UBND huyện Bến Cát cấp cho một số cán bộ Văn phòng Huyện ủy, Văn phòng UBND huyện, ông Lê Thành Nhơn, Bí thư Huyện ủy Bến Cát cho rằng: "Nguồn gốc 52,9 ha đất nêu trên trước đây thuộc Văn phòng Huyện ủy khai hoang và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1994. Sau đó, Văn phòng Huyện ủy nhường lại cho Công ty cao-su Bến Cát là đơn vị kinh tế Ðảng trực thuộc Tỉnh ủy Bình Dương với số tiền 300 triệu đồng.

Sau 3 năm trồng cao-su, Công ty cao-su Bến Cát vẫn không trả tiền cho Văn phòng Huyện ủy, nên Công ty cao-su Bến Cát đề nghị Văn phòng Huyện ủy nhận lại diện tích cao-su nói trên, được Tỉnh ủy chấp thuận và giao cho chính quyền làm các thủ tục pháp lý để quản lý. Sau đó việc UBND huyện Bến Cát giao và cấp "sổ đỏ" cho một số cán bộ Bến Cát để anh em góp gần 1 tỷ đồng trả tiền cho Văn phòng Huyện ủy 300 triệu và gần 700 triệu tiền xây dựng cơ bản vườn cao-su cho Công ty cao-su Bến Cát cũng theo chủ trương chung của tỉnh và huyện, chứ không thể gọi là "chia chác".

Theo ông Nhơn thì đây là chủ trương đúng, vì vào thời điểm đó (năm 1998-1999) UBND Bình Dương còn nghèo, việc một số cán bộ huyện Bến Cát góp tiền gần 1 tỷ đồng trả cho Văn phòng huyện và Công ty cao-su Bến Cát lấy lại đất mà nguồn gốc là của mình, được coi như "gỡ rối" cho huyện...

981 ha đất được "phù phép" như thế nào?

Công ty Chế biến cây công nghiệp (Sobexco) là doanh nhà nước do làm ăn thua lỗ. Ngày 1-1-2001 UBND tỉnh Bình Dương có Quyết định số 176/2001/QÐ.CT giải thể công ty, trong đó nội dung xử lý về đất đai và tài sản do công ty quản lý.

Trước khi chính thức có quyết định giải thể, các năm 1999, 2000 UBND tỉnh Bình Dương đã chỉ đạo các cơ quan chức năng như Sở NN-PTNT, Sở Ðịa chính (nay là Sở TN-MT) Sở Tài chính, Chi cục Tài chính doanh nghiệp, Cục Thuế cùng Công ty Sobexco nghiên cứu, tham mưu cho UBND tỉnh các phương án xử lý các vấn đề cụ thể.

Trong số 981 ha đất được UBND tỉnh thu hồi có 2 cách giải quyết: thứ nhất là 320,24 ha theo văn bản số 3846/UB.SX ngày 9-9-2003 của UBND tỉnh, giao cho 112 hộ dân nhận khoán của Công ty Sobexco và 0,918 ha theo Quyết định số 5883 QÐ.CT ngày 21-10-2002 của UBND tỉnh giao cho người trúng đấu giá (tổng cộng 321,158 ha). Sau đó được UBND huyện Bến Cát cấp GCNQSDÐ được coi như đúng luật và hợp lý. Vấn đề còn lại là 658,979 ha đất vườn cây cao-su được UBND huyện Bến Cát chia bán làm 2 đợt: Ðợt một, bán thẳng không qua đấu giá 306,979 ha cho 40 người và đợt 2, bán đấu giá 352 ha cho 36 người (sau đó chỉ 31 người) theo kết luận của Thanh tra nhà nước tỉnh Bình Dương là sai.

Xin được thống kê một vài sai phạm chính sau đây: việc thực hiện giao cấp đất cho các cá nhân không đúng đối tượng là người có hộ khẩu nông nghiệp thường trú tại địa phương để sử dụng ổn định lâu dài. Vì trong tổng số 40 người được giao và cấp sổ đợt 1 không có hộ nào có hộ khẩu thường trú tại địa phương, thực tế có 27 cá nhân hộ khẩu trong tỉnh, nhưng không phải dân sở tại cần phải có đất sản xuất và 13 cá nhân hộ khẩu ngoài tỉnh.

Số người giao đất và cấp sổ đỏ đợt 2 cũng hầu hết là cá nhân hộ khẩu tại TP Hồ Chí Minh và không phải là nhân khẩu nông nghiệp, không có ai là đối tượng cần đưọc cấp đất tại địa phương sở tại. Căn cứ trên các hợp đồng chuyển nhượng vườn cây cao-su xây dựng cơ bản giữa Công ty Sobexco với các cá nhân có tất cả 36 người (bình quân 10 ha/người). Ðến khi UBND huyện Bến Cát cấp GCNQSDÐ thì chỉ còn 31 người.

Có một sai phạm nằm trong sự "quên lãng" của các ngành chức năng tỉnh Bình Dương và huyện Bến Cát là trong tất cả các văn của UBND tỉnh phê duyệt và văn bản của Tổng cục Thuế trả lời việc mua bán đấu giá 658,979 ha vườn cây cao-su của Công ty Sobexco (sau này do UBND Bến Cát quản lý) vào thời điểm giao cấp đất không có văn bản nào của cấp thẩm quyền cho phép chuyển nhượng vườn cây cao-su gắn với quyền sử dụng đất. Vì vậy, việc UBND Bến Cát, giao cấp đất không chỉ sai luật mà còn "bỏ quên" không tính tiền thuế đất, hoặc tiền chuyển nhượng đất, làm thất thoát ngân sách một khoản tiền lớn.

Ông Lê Thành Nhơn, Bí thư Huyện ủy Bến Cát cho biết: "Việc giao cấp đất hơn 658 ha của Công ty Sobexco thuộc thẩm quyền của tỉnh, huyện Bến Cát không tham gia vào việc này và hiện nay các cơ quan chức năng của tỉnh và Trung ương đang điều tra, giải quyết, nên ông không có gì để nói".

Trả lời chúng tôi về những vấn đề này, các ông Nguyễn Minh Giao, Kiều Kông, Chánh Thanh tra và Phó chánh Thanh tra tỉnh Bình Dương khẳng định: Những sai phạm trên của huyện Bến Cát, Công ty Sobexco và Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh đã được thanh tra tỉnh Bình Dương thanh tra, kết luận.

Dư luận đặt câu hỏi: "Vì sao mà UBND huyện Bến Cát lại có cách giải quyết hoàn toàn trái với quy định của Nhà nước như vậy? Trong số 71 người được cấp 52,9 ha đất của Công ty cao-su Bến Cát và 658,979 ha cao-su của Công ty Sobexco có bao nhiêu người có thể là thân nhân của  những cán bộ có chức quyền?

Vì sao họ lại được UBND huyện Bến Cát ưu đãi nhanh chóng cấp "sổ đỏ" và không phải nộp các khoản tiền lệ phí và tiền giá trị đất, hoặc tiền thuê đất? Chỉ biết trong đó có đất của gia đình ông Cao Minh Huệ, Giám đốc Sở Ðịa chính, nay là Sở Tài nguyên - Môi trường, tới gần 80 ha... Sau đó, UBND tỉnh Bình Dương đã nhanh chóng bồi thường tới gần 400 tỷ đồng cho những người đã được "biếu không" 700 ha đất để địa phương thu hồi làm Khu công nghiệp, nếu dư luận không lên tiếng để dừng lại thì con số bồi thường sẽ là hơn 1.000 tỷ đồng.

Có thể bạn quan tâm