Việc trau dồi sắc đẹp là một nhu cầu của phụ nữ. Nhưng chăm sóc sắc đẹp hoặc giải phẫu thẩm mỹ tất yếu phải tác động lên cơ thể, trong khi đó mọi sự xâm phạm đến thân thể người khác đều bị luật pháp cấm đoán. Vậy đâu là giới hạn của việc giải phẫu thẩm mỹ? Luật sư Nguyễn Mạnh Bách nêu lên những khía cạnh pháp lý chung quanh vấn đề này.
Sức khỏe và sắc đẹp là hai lĩnh vực khác nhau. Xấu không phải là bệnh tật. Đó là nguyên tắc để phân biệt giữa chăm sóc sắc đẹp và chăm sóc y khoa. Tuy nhiên, giữa hai hoạt động này có sự liên kết chặt chẽ với nhau. Có ba cách điều trị nhan sắc, tùy trường hợp:
Trực tiếp, như cách của thẩm mỹ viện, cải thiện nhan sắc bằng những thủ thuật đơn giản nhưng hiệu quả. Gián tiếp, là cách của các bác sĩ, cải thiện nhan sắc của bệnh nhân bằng cách phục hồi sức khỏe, tức là chữa trị căn bệnh vốn là nguyên nhân khiến nhan sắc của bệnh nhân bị suy tàn. Sau cùng là giải phẫu thẩm mỹ, có thể do các bác sĩ thực hiện với điều kiện là khiếm khuyết về nhan sắc khiến bệnh nhân chịu một nỗi đau tinh thần quan trọng hơn rủi ro của cuộc giải phẫu.
Nguyên tắc việc tìm kiếm sắc đẹp là tự do nếu nó được thực hiện một cách trực tiếp và không gây tổn thương cho cơ thể như duy trì hoặc tái tạo sự mịn màng của làn da, sự óng mượt của mái tóc, sự hài hòa của cơ thể và điều này không phải là độc quyền của y khoa.
Hoạt động chăm sóc sắc đẹp là hợp pháp nếu thẩm mỹ viện không vì mục đích cải thiện nhan sắc lại đi chẩn bệnh và chữa bệnh.
Cách thứ hai và ba không thuộc lĩnh vực chăm sóc thẩm mỹ mà đã qua lĩnh vực y khoa, bởi lẽ chẩn đoán và chữa bệnh cũng như xâm phạm thân thể người khác trong khi chữa trị là lĩnh vực độc quyền của hoạt động y khoa. Nhưng giải phẫu thẩm mỹ cần được phân biệt với y khoa thông thường.
Mục đích của y khoa là duy trì và nâng cao sức khỏe, còn giải phẫu thẩm mỹ là tăng cường nhan sắc. Trong hoạt động y khoa, khi một căn bệnh quan trọng cần phải được xử lý bằng giải phẫu người ta thường thấy có sự cân bằng giữa kết quả mong đợi và mối nguy cơ gây ra: kết quả là lành bệnh hoặc ít ra bệnh thuyên giảm, còn nguy cơ là phải chịu cuộc phẫu thuật, mà phẫu thuật nào, dù nhỏ hay lớn cũng nguy hiểm cho sức khỏe bệnh nhân.
Trong giải phẫu thẩm mỹ, người ta không thấy sự cân bằng giữa rủi ro và kết quả: nâng một cái mũi cao lên hoặc cắt mắt to ra, bác sĩ phải thực hiện cuộc giải phẫu nhiều khi gây nguy hiểm đến sức khỏe và tính mạng của đương sự. Giữa y khoa và giải phẫu thẩm mỹ, mức độ an toàn không giống nhau.
Y khoa có một quá trình kinh nghiệm lâu dài phong phú với các tiến bộ khoa học lớn lao, còn giải phẫu thẩm mỹ tương đối còn mới mẻ và dựa trên các phương pháp mà hiệu quả nhiều khi không chắc chắn.
Chính vì các lý do trên, trong một thời gian dài tại các quốc gia có nền pháp luật tiên tiến, tính hợp pháp của giải phẫu thẩm mỹ đã gặp sự chống đối mạnh mẽ của các luật gia và tòa án, nếu không có một căn bệnh cần điều trị mà chỉ có một sự không hoàn hảo về thể chất cần loại bỏ hoặc che giấu thì bác sĩ phải từ chối can thiệp bởi lẽ không có lợi ích nào cho khoa học hoặc cho bệnh nhân khiến bác sĩ có thể đặt bệnh nhân trước một nguy cơ lớn của cuộc phẫu thuật chỉ để đổi lấy một kết quả nhỏ nhoi.
Nếu bác sĩ không từ chối thì sẽ chịu trách nhiệm dù rằng không phạm một lỗi nghề nghiệp nào cả. Thực hiện phẫu thuật trên cơ thể mà không vì mục đích chữa bệnh, tự nó đã là một lỗi dù rằng có sự chấp thuận hoặc yêu cầu của đương sự.
Nhưng quan điểm giới hạn hoạt động y khoa trong công tác chữa trị bệnh tật về thể chất tỏ ra quá chật hẹp. Thật vậy, chữa trị tức là đem lại phương thuốc cho mọi sự bất ổn của cơ thể, đó có thể là một căn bệnh hoặc chỉ là một sự không hoàn hảo của cơ thể nhưng tác động đến tinh thần.
Giải phẫu thẩm mỹ có mục đích cải tạo hoặc xóa đi các khiếm khuyết của cơ thể như: vết nhăn, cằm đôi, ngực xệ, bụng bự... đã khiến người phụ nữ bị ám ảnh, suy nhược thần kinh, một tình trạng khó chịu đựng hơn cả một căn bệnh thật sự. Vai trò của giải phẫu thẩm mỹ trong trường hợp này là chữa trị ngoại hình để tái tạo sức khỏe nội tâm. Làm đẹp không phải là một lý do phù phiếm khi nó đem lại niềm vui cho cuộc sống.
Vì thế, quan điểm các luật gia và tòa án ngày nay bớt khắt khe hơn và chấp nhận tính hợp pháp của giải phẫu thẩm mỹ với điều kiện: không có sự mất cân xứng lớn giữa kết quả mong đợi và rủi ro gây ra; sự không cân xứng ấy phải không hiển nhiên. Chăm sóc nhan sắc bằng giải phẫu thẩm mỹ sẽ không hợp pháp nếu khả năng rủi ro xảy ra rất lớn trong khi sự khiếm khuyết nhan sắc của đương sự không đáng kể và không ảnh hưởng gì đến tình trạng tâm lý của họ.
Trên đây là các quan điểm trội yếu của các luật gia và tòa án tại các quốc gia tiên tiến liên quan đến tính hợp pháp của giải phẫu thẩm mỹ. Tại Việt Nam, đến nay, hiếm thấy quan điểm của tòa án về vấn đề này.
Tuy nhiên trước trào lưu hăm hở đi tìm cái đẹp ngoại hình của phụ nữ, trước sự bùng nổ của các hoạt động phục vụ nhan sắc, thiết tưởng các giới hữu trách cần quan tâm đến tính hợp pháp của giải phẫu thẩm mỹ vì đây là một vấn đề liên quan đến sức khỏe, đến sự an toàn thân thể của công dân, đến trật tự công cộng.