Về Quỳnh Lưu tìm bóng hình ông Ðợi

Về Quỳnh Lưu tìm bóng hình ông Ðợi

Một gia đình nông dân ở xã Tiên Thủy đã biết nuôi hươu từ trước năm 1945. Ðến năm 1981, nhiều hộ ở Quỳnh Lưu(*) nuôi hươu như một ngành kinh tế. Năm 1982, cả huyện có hơn 7.000 con hươu, vào thời điểm đó, giá một con hươu cái ba tháng là mười cây vàng.

Quỳnh Lưu cũng là nơi đầu tiên làm hè thu và làm vụ đông ở Nghệ Tĩnh.

Một anh thợ cơ khí ở Quỳnh Lưu thất nghiệp đã về quê mày mò chế tạo ra máy thổi lửa cho lò than, lò trấu, bếp củi bán khắp nơi.

Nhưng phong trào nổi tiếng nhất từ sau giải phóng 1975 đến nay là phong trào "sắp đặt lại giang san" của ông Nguyễn Hữu Ðợi.

Năm đầu của phong trào ấy tôi có dịp qua Quỳnh Lưu. Trong khi ngồi nghỉ ăn trưa dưới bóng mát của cây ngô đồng, ở cầu Giát, chúng tôi đã được nghe những bà lão nông than trời khóc đất: "Ðảng Quỳnh Lưu mần chết dân, lên rú nắng chang chang, nước non không có, đi mần thì ngái, sống răng được các bác ơi"!

Tiếng kêu khóc của những bà mẹ ấy xoáy vào lòng tôi nhiều năm. Hình ảnh ông Ðợi trong tôi đã từng là hình ảnh một cán bộ cách mạng quan liêu, độc đoán.

Nhưng vì sao những câu khẩu hiệu của ông như "Mo cơm quả cà với tấm lòng cộng sản đi lên chủ nghĩa xã hội"; "Thay trời đổi đất, sắp đặt lại giang sơn"... lại được cả nước nhớ mãi? Và những làng xóm di dời theo lệnh ông ngày ấy như Ngọc Sơn, Quỳnh Tân... đã trở nên đẹp đẽ, trù phú. Những cánh đồng manh mún trở nên bát ngát. Ðó là kết quả của những điều ngày nay chúng ta đang vận động là chuyển dịch cơ cấu, là dồn điền, đổi thửa, là xây dựng nông thôn mới theo quy hoạch... Những cơ cực, đắng cay ngày xưa là có thật, nhưng những kết quả ngày nay cũng là có thật. Khi người ta nhận ra ông có những điều đi trước thời cuộc thì ông đã nằm lặng dưới mồ, không còn đối thoại được với những người từng lên án ông là chủ quan, duy ý chí, có nhiệt tình cách mạng mà không có tri thức cách mạng...

Ông Nguyễn Hữu Ðợi sinh ngày 1-1-1927 tại làng Ðông Yên, xã Quỳnh Hồng. Từ 1964 - 1978 ông là Phó Chủ tịch, Chủ tịch rồi Bí thư Huyện ủy Quỳnh Lưu. Trong 10 năm (1968-1978) các phong trào ở Quỳnh Lưu nằm dưới sự ảnh hưởng trực tiếp và gần như tuyệt đối của ông Ðợi. Năm 1979-1983 ông Ðợi là trưởng ban khai hoang. Năm 1984-1990 là chủ tịch hội nông dân tỉnh Nghệ An. Ông mất ngày 10-10-1996.

Trên đất Quỳnh Lưu và cả một vùng xứ Nghệ, ông Nguyễn Hữu Ðợi đã trở thành một con người mang mầu sắc huyền thoại.

Tôi đã đến nhà ông ở quê. Ðó là một ngôi nhà không khác gì nhà ở của một người nông dân bình thường cùng xứ sở khác, có khác chăng là sàn nhà có lát gạch hoa, một thứ gạch hoa ngày nay đã quá lỗi thời. Thắp nén hương viếng ông và lần giở sổ tang, tôi gặp những lời kính phục. Một người bạn quê tên là Phan Hữu Khuê bày tỏ:

"Trời xanh ai nhuộm mà xanh
Hoa hồng ai nhuộm mà quanh năm hồng
Nghĩa tình ông đã sáng trong
Nhân dân nhớ mãi suốt dòng thời gian
Nhiều người nhận định khách quan
Dám làm dám nghĩ góp phần thành công".

Ông Trương Công Anh, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Nghệ An viết: "Những gì đồng chí đã làm và để lại, chúng tôi nguyện sẽ kế tục một cách xứng đáng nhất".

Ông Ðợi có năm con, ba trai, hai gái. Lời dặn thường xuyên và cuối cùng của ông đối với các con là: "Anh em làm gì thì làm nhưng thương và lo cho mình, phải biết thương mọi người, không được tham lam của người ta". Ðó cũng là câu bố ông Ðợi dặn anh em ông Ðợi từ xưa. Một lời dặn gia truyền.

Vợ ông, bà Ngô Thị Ðạm là một bà vợ theo nền nếp cũ, hơn ông Ðợi hai tuổi. Không bao giờ bà can thiệp vào công việc của chồng như các bà lớn bây giờ. Cả đời bà chỉ phàn nàn ông mỗi tội là ham việc quá. Từ huyện ủy đến Quỳnh Hồng chỉ cách nửa cây số mà có khi hai tháng ông Ðợi cũng không về nhà. Sinh cháu cũng không về, mãi sau sốt ruột quá mới nhờ một ông cán bộ đèo ra cho xem mặt. Anh Trần Ngưỡng cán bộ văn phòng huyện ủy Quỳnh Lưu kể: Ông Ðợi là người lúc nào cũng sôi lên sùng sục. Lính tráng thấy ông như thấy cọp vì cứ công việc là ông đòi cụ thể đâu ra đấy, không chung chung được. Lơ mơ là ông nạt liền. Có lần ông Nguyễn Tiến Chương, Phó Bí thư Tỉnh ủy ra Quỳnh Lưu mời Trưởng phòng Nông nghiệp lên báo cáo, thì trưởng phòng đã về nhà, ông Ðợi mắng luôn quên cả sự có mặt của cấp trên "Loại cán bộ làm nhà trên bụng vợ".

Những năm ấy cả nước, nhất là xứ Nghệ đói lắm. Nguồn lương thực viện trợ ước vài triệu tấn một năm bị cắt phựt. Nông dân miền nam đang lo tổ chức tập đoàn sản xuất, tức là lo cái quan hệ. Còn ở miền bắc thì hợp tác xã đã đến hồi yếu kém nhất, ruộng đất ì ra trước sự sao nhãng và lười nhác của con người. Tôi có người chị ruột làm việc ở UBND TP Vinh. Hồi ấy chị mới sinh đứa thứ hai. Tiêu chuẩn lương thực được mua cung cấp có tháng toàn bo bo (mì hạt). Chồng chị đang ở quân ngũ, đơn vị ở nam, chị phải đem toàn bộ  bo bo đổi lấy mì sợi, năm ăn một. Cả nhà mỗi ngày chỉ luộc mì một lần vào cái soong nhỏ. Chị tôi hầu như không ăn. Nhịn mãi, nhịn mãi thành chứng đau dạ dày đeo suốt cuộc đời. Ðã không ít người bỏ biên chế xách con vào nam làm rẫy. Có câu: "Năm tám mươi gạo thóc tám mươi, dân xứ Nghệ mặt vàng như nghệ" là thế. Hạt gạo lúc ấy có tính sống còn, lương thực là tất cả.

Ông Nguyễn Hữu Ðợi không đợi ai. Ông bắt dân cắm mặt vào đất. Khẩu hiệu ông đề ra là "Một giỏ đất, một lít nước cũng làm lương thực"; "Có nước là có lúa, có đất là có màu, có người là có việc"; "Ðông xuân này quyết tuyên chiến với thiên nhiên"... Những khẩu hiệu nghe chừng quá tả. Nhưng ai đã từng đói, đã từng bị đẩy đến bước đường cùng, đã từng không muốn và không thể bấu víu vào đâu ngoài mình thì những khẩu hiệu ấy xốc dậy tinh thần quật khởi và mở ra một con đường sống. Rồi những khẩu hiệu khác của ông như "Mạ vô sân, dân vô rú", "Thay trời đổi đất, sắp đặt lại giang sơn", "Mo cơm quả cà và tấm lòng cộng sản đi lên chủ nghĩa xã hội", cũng đều tràn đầy một tinh thần sáng tạo, lạc quan cách mạng, tin tưởng ở sức mình. Ngày ấy có gì hơn ngoài mo cơm quả cà? Mà nói "mo cơm" là nói cho oai. Nhiều người đi làm thủy lợi ở Vực Mấu chỉ có khoai, sắn hoặc bí đỏ thay cơm. Ðiều ông muốn nhấn mạnh là tấm lòng cộng sản. Không có tấm lòng ấy thì dù có nhiều bạc vàng và phương tiện kỹ thuật cũng không thể xây dựng được chủ nghĩa xã hội mà rồi giàu nghèo cách bức, giai cấp lại xuất hiện mà thôi. Ông Ðợi đã từng nói với cán bộ mình: "Khi chủ nghĩa Mác bị tiến công thì các "chủ nghĩa lác lác" (nhảm nhí) xuất hiện. Vì vậy, cứ giữ vững chủ nghĩa Mác mà tiến công".

Ông Nguyễn Hữu Thao, nguyên Bí thư Huyện ủy Tân Kỳ, là em ruột ông Ðợi. Trong khi ông Ðợi nổi đình nổi đám ở Quỳnh Lưu thì ông Thao cũng dựng cờ khai hoang phục hóa ở Tân Kỳ, đưa sản xuất ở miền núi từ một vụ thành hai vụ vì thế hai anh em đều được bầu làm đại biểu chính thức đi dự Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ năm. Ông Thao kể: Nhà tôi có ba anh em, ông Ðợi là cả. Ông được cho đi học chữ Nho vì bố tôi quan niệm là con cả thì phải biết đọc văn tế và gia phả. Hồi nhỏ, anh Ðợi đã rất khỏe, thích đá bóng, thích tập võ, mình anh đi lấy củi bán lấy tiền cho cả nhà như Thạch Sanh. Anh em rất thương nhau nhưng về quan điểm không bao giờ có sự nể nả, thậm chí còn cạo nhau giữa phiên họp tỉnh ủy. Bữa trước, ông Thao phê bình đồng chí Ðợi bí thư Quỳnh Lưu là độc đoán, mất dân chủ, nóng vội; bữa sau ông Ðợi phê bình đồng chí Thao, bí thư Tân Kỳ là thiển cận và thừa tự do, là để phong trào cách mạng nguội lạnh...

Trên con đường tìm những huyền tích của ông Ðợi, tôi đã gặp đồng chí Trương Kiện, một nhà báo, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh, nguyên thủ trưởng trực tiếp của ông Ðợi ở Quỳnh Lưu từ những năm sáu mươi. Ông Kiện cũng là một người không từ trên trời rớt xuống cùng dưới đất chui lên. Bốn tuổi mới biết đi. Nói là làm. Mà làm là sùng sục. Ông quan niệm cách mạng là ngày hội. Sau chiến tranh, Nghệ Tĩnh nhận một lúc hàng nghìn giấy báo tử, trong cái vui giải phóng, không phải không có trầm lắng, bi ai trong mỗi thôn cùng ngõ vắng. Phải tạo ra một ngày hội cách mạng mới lấn át cái trầm lắng đó. Thủy lợi trở thành mặt trận, thành điểm xung kích. Với Vách Bắc, Vách Nam, Hồ Kẻ Gỗ... Nghệ Tĩnh nổi nhất trong cả nước về làm thủy lợi lúc đó. Công trình lớn nhất là Hồ Kẻ Gỗ ở Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh với sức chứa 100 triệu m3 nước, huy động tới năm vạn dân công, ba vạn dân công Nghệ An, hai vạn của Hà Tĩnh. "Người đi xây hồ Kẻ Gỗ" đã để lại một bài ca, một điểm du lịch, một công trình thủy lợi có hiệu quả kinh tế cao cho đến hôm nay.

Nhân nói chuyện về nhập tỉnh, tách tỉnh (tỉnh Nghệ Tĩnh tồn tại từ 1977 - 1991) tôi xin phép kể lại cho ông Kiện nghe chuyện "Vinh dự". Có một cán bộ trung ương hỏi một người dân Hà Tĩnh rằng, khi chia tỉnh thì mọi người thấy thế nào. Người dân đáp: Vinh dự. Nhập tỉnh cũng vinh dự mà tách tỉnh cũng vinh dự. Trung ương hiểu là vinh dự, tự hào cũng được nhưng chính là đằng nào thì của cải Vinh (TP Vinh - tức Nghệ An) đều giữ hết! ("giữ" đọc theo âm khu 4 là "dự"). Ông Kiện cười sảng khoái, cười chảy cả nước mắt. Nhưng thực tế hoàn toàn không chỉ có thế. Khi xây Hồ Kẻ Gỗ, ông Kiện muốn chứng minh "tỉnh lớn" thì hơn "tỉnh nhỏ" là phải làm cái lớn của tỉnh nhỏ trước. Tôi cũng biết vụ cống Hiệp Hòa và nhiều chuyện khác nhưng quả thật, trong các thời kỳ làm cách mạng, người cộng sản luôn bộc lộ những phẩm chất tốt đẹp, trong sáng là chủ yếu, và những điều đã thực hiện trong cuộc sống là vô cùng vĩ đại.

Năm 1962, ông Nguyễn Hữu Ðợi làm Phó chủ tịch UBND huyện. Hồi đó người ta chê ông Ðợi là "nói rẹt rẹt, làm khét lẹt". Nhưng cũng nhiều người, trong đó có cấp trên là ông Kiện có đôi mắt xanh: tuy có "khét" nhưng mà thơm vì ông Ðợi có "mỡ". Khi ông Ðợi làm Chủ tịch huyện, ông Kiện bí thư. Hồi đó, huyện phân cho ông Ðợi và ông Xấn, phó chủ tịch phụ trách thủy sản hai chiếc xe Thống Nhất cung cấp để đi cơ sở. Hai ông này bàn nhau bán đi mua xe Phượng Hoàng, còn dôi ra ít tiền, vừa có xe đi chắc chắn hơn. Ông Kiện coi đó là vi phạm kỷ luật gọi ông Ðợi, ông Xấn bắt phải "sửa sai" trong năm ngày, nếu không, thôi luôn làm cán bộ. Ông Ðợi là người như thế nhưng vẫn xanh mắt, đúng hạn thì chuộc được xe về. Ông Kiện "tha bổng", không đưa vấn đề này ra tập thể.

Ông Kiện và ông Ðợi hợp nhau ở quy mô lớn và cũng hiểu tấm lòng của nhau. Khi ông Kiện lên tỉnh, ông Ðợi kế chân làm bí thư huyện. Một lần đi Thái Bình, thấy đồng muối người ta ngon lành quá, ông Ðợi muốn cải tạo đồng muối Quỳnh Lưu một cách "hoành tráng" bằng cách san phẳng hết cồn mô, chia cắt, đắp đê, xây cống để chủ động nước ra vào. Ðó là lúc còn chiến tranh, đồng vốn không có, lại phải huy động nhiều người, làm chết dân là mình cũng chết luôn. Tỉnh không đồng ý. Ông Ðợi đang đêm đạp xe ngót trăm cây số lên gặp ông Kiện ở nơi Tỉnh ủy, Ủy ban sơ tán nằn nì: "Anh Kiện ơi, em muốn cải tạo đồng muối, xin tỉnh, tỉnh không cho. Anh đồng ý đi, em làm rồi em báo cáo tỉnh sau". Sau khi cân nhắc mọi nhẽ, ông Kiện bảo: "Thôi, làm đi. Có gì cậu và tớ cùng chịu!".

Ông Ðợi mừng quá, đạp xe về ngay trong đêm. Lợi dụng lúc ngừng bắn, ông huy động tối đa sức dân, không một đồng vốn ngân sách, đã xây dựng nên đồng muối Quỳnh Thuận với những con đê dài, những ô thửa, cầu cống chính quy, xóa bỏ tính manh mún, đưa sản lượng muối lên cao vọt. Ngày nay nhiều bà con vẫn gọi là đồng muối ông Ðợi...

Có người nói không có ông Kiện thì không có ông Ðợi. Thật ra không có một quê hương như thế thì không có cả hai ông. Và không có những người như các ông thì không thể có phong trào cách mạng sôi nổi một thời.

Không có gì và không có ai hoàn hảo. Chỉ những ai lòng sáng, chỉ những gì thật sự có giá trị thì không bụi bặm nào che khuất nổi và sẽ được người đời nhớ mãi.

Tôi nghĩ, ông Ðợi là một trong số không nhiều người đã sống và để lại tiếng thơm trên quê hương mình và có ý nghĩa khơi gợi cho cả hôm nay.

-----------------

(*) Quỳnh Lưu có 42 xã, hơn 60 vạn dân, là một huyện lớn của xứ Nghệ. Với ba cửa biển (Lạch Quèn, Lạch Cờn, Lạch Thơi), người Quỳnh Lưu sớm giao thương quốc tế bằng đường biển. Ngày nay, nhiều ngư dân, doanh nhân có tàu thuyền riêng buôn bán đến tận Hồng Công, Trung Quốc và các nước trong khu vực.

Có thể bạn quan tâm