Từ năm 1966, đế quốc Mỹ đã thay đổi cách đánh Hà Nội, thường cách vài chục cây số, máy bay Mỹ đã phóng tên lửa và rốc-két vào thành phố, có lần tên lửa đã rơi xuống khu vực sân sau Phủ Chủ tịch, chỉ cách nhà sàn vài trăm mét. Vì vậy, các đồng chí trong Bộ Chính trị đã đề xuất ý kiến với Bác để xây một ngôi nhà kiên cố, vững chắc hơn để Bác có thể làm việc an toàn trong tình hình chiến tranh leo thang, nhưng Bác từ chối. Mùa hè năm 1967, nhân khi Bác đi công tác vắng, từ ngày 1-5-1967, Bộ Chính trị quyết định cho thi công và hoàn thành ngôi nhà vào cuối tháng 6. Việc xây dựng do Trung đoàn 259, Bộ Tư lệnh Công binh đảm nhiệm. Ngày 30-6, Bác đi công tác về, Người tỏ ý không vui khi thấy ngôi nhà mới. Các đồng chí trong Bộ Chính trị và đồng chí Phạm Hùng, Phó Bí thư T.Ư Cục miền nam và phụ trách công tác tài chính của Ðảng, đã báo cáo đó là nguyện vọng của toàn Ðảng, toàn dân muốn bảo đảm an toàn cho Bác trong cuộc chiến tranh ngày càng ác liệt, nhưng Bác vẫn quyết định ngôi nhà sẽ là địa điểm họp của Bộ Chính trị và nơi làm việc với T.Ư, cũng từ đó nhà này gọi là H67. Trong nhà có một bàn họp lớn ở giữa phòng, ghế Bác ngồi và chung quanh có 10 ghế mây khác. Trên mặt bàn còn những tài liệu, giấy bút, sách báo... bên cạnh ngọn đèn bàn có một chiếc ra-đi-ô chiến lợi phẩm của bộ đội ta từ chiến trường miền nam gửi tặng Bác. Hai bên tường có treo hai bản đồ khổ lớn để theo dõi bố trí binh lực địch ở miền nam và bố trí không quân, hải quân địch tham chiến ở Việt Nam. Vật dụng tùy thân Bác để lại là một đôi dép cao-su đã mòn và chiếc can chống quen thuộc đó đã bóng cùng thời gian...
Do sức khỏe của Bác ngày càng suy giảm nên tổ bác sĩ chăm sóc đề nghị Người không nên lên xuống cầu thang nhà sàn nữa mà ở hẳn tại H67 để tiện cho việc điều trị bệnh. Kể từ tối 17-8-1969 và những ngày tiếp theo, Bác vẫn làm việc nhiều. Người gửi thư, điện, chúc mừng; bổ nhiệm, khen thưởng huy hiệu cho những cá nhân xuất sắc và hằng ngày, Người vẫn đọc sách, báo, bản tin, góp ý kiến cho các bản báo cáo... Ngày 25-8, một cơn đau đột ngột làm Bác choáng ngất, sức khỏe Người bắt đầu diễn biến phức tạp. Bộ Chính trị và các giáo sư, bác sĩ Viện Quân y 108, các chuyên gia Trung Quốc cùng mọi phương tiện y tế thường xuyên túc trực bên Người. Ngày 27-8, buổi sáng, Bác tỉnh táo nhưng sau đó Người mệt ngủ thiếp đi. Lúc tỉnh lại, Bác nói muốn nghe một khúc dân ca, chị y tá Ngô Thị Oanh đã hát một bài về Chiến sĩ quân y và một bài dân ca quan họ, nghe xong Bác tặng chị một bông hồng đỏ thắm. Ngày 28-8, Chủ tịch Hồ Chí Minh có dấu hiệu rối loạn nhịp tim, nhưng Bác vẫn đặc biệt quan tâm đến tình hình chiến sự ở Nam Bộ và Liên khu V. Ngày 30-8, sức khỏe Bác vẫn xấu đi. Buổi chiều, Thủ tướng Phạm Văn Ðồng đến thăm, Người hỏi về việc chuẩn bị kỷ niệm lễ Quốc khánh và dặn nên bắn pháo hoa để động viên tinh thần nhân dân. Người còn nhắc đề phòng lũ sông Hồng lên to. Ngày 31-8, bệnh tình Bác diễn biến xấu hơn. Khi tỉnh, Người lại hỏi thăm tin chiến sự miền nam. Ðồng chí Lê Văn Lương, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức T.Ư Ðảng kể lại: "... Những ngày cuối cùng, Bác rất mệt. Nhưng không rên một tiếng. Khi tỉnh, Bác còn động viên các bác sĩ: "Hôm nay, Bác thấy khỏe hơn hôm qua, chú ạ!". Thấy các đồng chí trong Bộ Chính trị vào thăm, Bác chủ động hỏi: "Miền nam hôm nay thắng ở những đâu? Các chú định tổ chức lễ Quốc khánh năm nay thế nào? Các chú cố thu xếp để Bác ra với đồng bào dăm, mười phút!". Bệnh của Bác tiến triển không được tốt. Nhưng Bác không muốn để các anh trong Bộ Chính trị, trong Chính phủ lo lắng, cho nên Bác chủ động hỏi chuyện, như còn rất khỏe và tỉnh táo. Chúng tôi thấy mỗi lần hỏi chuyện là một lần Bác rất mệt. Biết thế, anh em chúng tôi bảo nhau: khi vào thăm Bác nên đứng ở phía đầu giường mà nhìn, không để cho Bác nhìn thấy mình. "Miền nam hôm nay thắng ở đâu? Các chú cố thu xếp để Quốc khánh năm nay Bác ra với đồng bào dăm, mười phút!". Ðến ngày 30-8, Bác còn hỏi han và dặn dò các đồng chí trong Bộ Chính trị như vậy... Bác luôn luôn nhớ tới miền nam! Bác tha thiết muốn gặp đồng bào, dù chỉ là dăm, mười phút! Nhưng Quốc khánh năm đó, Bác Hồ không ra gặp được đồng bào thân yêu...". Ngày 1-9, sức khỏe của Người suy yếu trầm trọng. Buổi sáng còn có lúc tỉnh nhưng buổi chiều điện tim rất yếu... đêm hôm đó huyết áp Bác thấp dần, nhịp tim trở nên bất thường. Ngày 2-9, hầu như toàn thể Bộ Chính trị và các giáo sư, bác sĩ đều có mặt bên giường bệnh. Khoảng hơn 8 giờ, điện tâm đồ gần như thành một đường thẳng, các bác sĩ liền thao tác xoa bóp nhân tạo để cho tim đập trở lại, nhưng đến 9 giờ 47 phút, tất cả mọi người òa khóc...
Trong đời sống chính trị và tinh thần của nhân dân Việt Nam, chưa bao giờ không khí đau thương bao trùm lên tất cả mọi người, mọi gia đình như những ngày toàn dân ta chịu tang Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại, người yêu nước thiết tha, người cộng sản mẫu mực, người cha, người bác, người anh, người đồng chí đức độ và nhân ái. Trời Hà Nội mưa suốt mấy ngày liền như cùng chia sẻ nỗi đau. Mọi người Việt Nam đều nghẹn ngào, nức nở, đau đớn không cầm được nước mắt, thương tiếc Bác Hồ như thương tiếc một người thân yêu nhất trong gia đình mình. Những lá cờ đeo băng tang mầu đen nặng nề rủ xuống trước cửa mọi nhà, mọi công sở. Rất nhiều buổi lễ truy điệu đơn giản, trang nghiêm và thành kính của các cá nhân, tập thể, các đơn vị bộ đội, những chi bộ trong nhà tù của địch được tổ chức từ cực bắc đến cực nam Tổ quốc...
Ngày 9-9-1969, Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh được cử hành trọng thể tại Quảng trường Ba Ðình, Hà Nội, với sự tham gia của các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Ðảng, Quốc hội, Nhà nước, Mặt trận và 50 đoàn khách nước ngoài, hàng chục vạn quần chúng nhân dân. Thi hài của Người đặt trên nền nhung đỏ trong linh cữu bằng thủy tinh trong suốt. Người vẫn mặc bộ quần áo ka-ki giản dị và đôi dép cao-su đặt trong một hộp kính nhỏ phía dưới chân của Người. Sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần đã gây xúc động lớn đối với mọi tầng lớp nhân dân trên thế giới. Hơn hai vạn bức điện từ hầu hết các nước trên thế giới của các vị nguyên thủ quốc gia, các tổ chức quốc tế, các nhân sĩ nổi tiếng đã gửi đến chia buồn trước tổn thất lớn lao của nhân dân Việt Nam. Nhiều nước tổ chức mít-tinh, tuần hành, làm lễ truy điệu, cầu siêu, tổ chức những ngày lao động đặc biệt, những cuộc hành quân mang tên Hồ Chí Minh.
Trái tim mênh mông ôm cả non sông mọi kiếp người ngừng đập; tâm hồn lớn của người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất đó hòa vào khí thiêng của đất trời. Nhưng giây phút cuối cùng ấy của Bác Hồ vắng bóng người thân thích, ruột thịt trong gia đình đưa tiễn. Vì thân phụ Người đã yên nghỉ mãi miền nam yêu thương; thân mẫu, anh, chị ruột Người cũng không còn ai nữa! Ở bên Người chỉ có những người phục vụ tận tụy, những đồng chí, những người bạn chiến đấu thân thiết, những người học trò xuất sắc nhất.
Theo phong tục truyền thống dân tộc và với tình cảm đặc biệt của mình với Bác Hồ kính yêu, anh chị em ở cơ quan đã lập bàn thờ Bác Hồ lên ô cửa sổ nhỏ để thắp nén hương thanh nhớ thương ngay tại nơi Người trút hơi thở cuối cùng. Từ đó suốt hơn 40 năm qua, hằng năm, vào những dịp Tết cổ truyền dân tộc, ngày sinh, ngày mất của Bác Hồ, các đồng chí lãnh đạo Ðảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ tới dâng hương tại bàn thờ giản dị này. Cán bộ, viên chức, người lao động gìn giữ nơi ở và làm việc của Bác Hồ cũng báo cáo những thành tích đã đạt được như những bông hoa tươi thắm nhất dâng lên Bác kính yêu. Hôm nay, bàn thờ giản dị đó vẫn ngát hương trầm để tưởng nhớ về hình ảnh tuyệt vời của một nhà lãnh đạo vĩ đại đã cống hiến cả đời mình cho độc lập thống nhất của Tổ quốc và phồn vinh của dân tộc.
BÙI KIM HỒNG
Giám đốc Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch