Bài 1: Thực trạng
Có một sự tương phản giữa môi trường làm việc và nơi ăn, chốn ở của công nhân tại các KCN, KCX: bên trong hàng rào là những khu nhà xưởng hiện đại, những con đường thảm nhựa thênh thang với từng hàng cây, luống hoa tỉa tót kỹ lưỡng; ngược lại, ngay bên ngoài hàng rào là cảnh tượng những nơi ăn, ở nhếch nhác, tạm bợ, tăm tối.
Giá nhân công thấp
| Sau hơn mười năm phát triển, cả nước có khoảng 140 khu công nghiệp, khu chế xuất (KCN, KCX), số lao động trực tiếp tại đây đã lên tới một triệu người. |
Chỉ trong ba tháng đầu năm nay, trên cả nước đã xảy ra 193 cuộc đình công với khoảng 130 nghìn người tham gia. Cần biết rằng, kể từ khi Bộ luật Lao động có hiệu lực (tháng 1-1995) đến hết năm 2005, trung bình mỗi năm nước ta chỉ có 89 cuộc đình công. Có nghĩa là, số cuộc đình công trong ba tháng đầu năm nay đã hơn gấp đôi số cuộc đình công trong cả một năm trước đó. Các cuộc đình công xảy ra dồn dập, có tính dây chuyền và dài ngày. Tại ba địa phương dẫn đầu cả nước về phát triển KCN, KCX là TP Hồ Chí Minh, Ðồng Nai và Bình Dương, số vụ đình công chiếm gần 84% tổng số cuộc đình công trên cả nước.
Lâu nay, điều được coi là lợi thế thu hút đầu tư nước ngoài là giá nhân công thấp. Người Việt Nam vốn cần cù lao động, biết quý trọng đồng tiền (dù ít ỏi) được làm ra bởi lao động chân chính. Nguyên nhân trực tiếp của vụ đình công hàng loạt đầu năm là do chậm điều chỉnh mức lương tối thiểu cho người lao động trong các doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).
Nói là chậm bởi việc này kéo dài trong suốt tám năm qua. Mức lương tối thiểu được xác định là 626 nghìn đồng/tháng trên địa bàn quận (tương đương với 45 USD/tháng) và 556 nghìn đồng/tháng trên địa bàn huyện. Hầu hết các chủ DN sử dụng mức lương tối thiểu làm mức lương cơ bản để trả cho lao động ở DN, đặc biệt là các ngành may quần áo, giày dép. Là mức lương quy định cho các DN FDI, nhưng do cơ chế thị trường, các DN trong nước xây dựng bảng lương thường "nhỉnh" hơn một chút để thu hút lao động. Trong khi mức tăng giá hàng tiêu dùng qua sáu năm là 28%, tỷ giá hối đoái tăng 14% (tổng cộng là 42%), mức lương tối thiểu vẫn bền bỉ "dẫm chân tại chỗ". Cũng trong sáu năm qua, với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 7 - 8%/năm, mức sống chung của toàn xã hội đã được nâng lên đáng kể. Có thể thấy rằng, công nhân trong các KCN, KCX đang phải mưu sinh đầy gian nan, vất vả.
Lý do chậm điều chỉnh mức lương tối thiểu trong các DN FDI được ngành lao động, thương binh và xã hội đưa ra: lao động trong các DN này chỉ là một bộ phận của toàn bộ lực lượng lao động trong xã hội. Việc điều chỉnh mức lương tối thiểu sẽ tạo áp lực buộc tăng lương cho người lao động nói chung. Một lý do nữa được các ngành quản lý "vĩ mô" đưa ra: việc tăng mức lương tối thiểu sẽ góp phần làm tăng giá thành sản phẩm, làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa nước ta, hệ quả là giảm thu hút đầu tư nước ngoài.
Duy trì mức giá nhân công thấp chỉ là một trong các giải pháp để thu hút đầu tư. Tuy nhiên, ngay cả khi nêu giải pháp bất đắc dĩ này, thì cũng cần lựa chọn mức giá nhân công đủ để hấp dẫn các nhà đầu tư, nhưng không thể là quá thấp, gây khó khăn cho đời sống người lao động.
Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có những điều tra về giá sức lao động trên thị trường các nước trong khu vực. Hầu hết những gì chúng ta được biết là qua sự cung cấp của chính các nhà đầu tư nước ngoài trong quá trình đàm phán.
Vì không có nguồn số liệu tin cậy để so sánh, nhóm phóng viên điều tra buộc phải dùng giải pháp phân tích chính thị trường lao động trong nước.
Trong đợt đình công đầu năm nay, khoảng hai phần ba số vụ xảy ra thuộc ngành dệt - may và giày dép. Ðây là nhóm ngành nghề sử dụng nhiều lao động, thao tác giản đơn, dễ dẫn đến nhàm chán; cường độ làm việc cao, thường xuyên phải tăng ca; và luôn nằm trong nhóm có thu nhập thấp nhất. Chính vì vậy, chúng tôi đặc biệt quan tâm đời sống công nhân thuộc nhóm ngành nghề này. Thu nhập cá nhân của công nhân dệt - may, hoặc giày dép tại từng vùng, miền chênh lệch nhau khá lớn. Tại TP Hồ Chí Minh, Ðồng Nai, Bình Dương vào khoảng 1,1 - 1,3 triệu đồng/người/tháng. Khu vực miền trung vào khoảng 600 - 900 nghìn đồng/người/tháng. Ðáng ngạc nhiên là khu vực đồng bằng sông Hồng với đội ngũ lao động có trình độ phổ cập giáo dục khá cao lại chịu mức thu nhập cá nhân thấp nhất, đối với ngành dệt - may và giày dép chỉ vào khoảng 500 - 600 nghìn đồng/người/tháng. Thậm chí có nơi chỉ 350 nghìn đồng/người/tháng.
Vấn đề đặt ra là với cùng một cơ chế, chính sách; với cùng một thị trường lao động (hơn một nửa số lao động tại các KCN, KCX ở TP Hồ Chí Minh, Ðồng Nai, Bình Dương đều từ các tỉnh phía bắc và miền trung vào); trong cùng một ngành nghề, mà giá sức lao động lại chênh nhau lớn đến như vậy?
Tại Công ty TNHH Sao Vàng (TP Hải Phòng), nơi đã xảy ra cuộc đình công của hơn 5.000 công nhân trong tổng số 7.000 công nhân của công ty. Ðây là một DN được coi là điển hình về môi trường lao động và mức thu nhập khá ở khu vực: khoảng 600 - 700 nghìn đồng/ người/tháng. Trả lời câu hỏi của chúng tôi về sự chênh lệch mức thu nhập của người lao động tại các vùng miền, Phó Giám đốc Công ty TNHH Sao Vàng Ðỗ Mạnh Trường dẫn giải: Giá sức lao động được quyết định bằng đơn giá hợp đồng gia công từng mặt hàng; vả lại giá sinh hoạt ở khu vực TP Hồ Chí Minh đắt đỏ hơn ngoài này(?!) Chúng ta hiểu rằng, đơn giá gia công có thể thay đổi theo từng mặt hàng, từng hợp đồng..., nhưng chỉ dao động quanh một mức trung bình của thị trường. Vấn đề giá cả sinh hoạt đắt đỏ tại TP Hồ Chí Minh, Ðồng Nai và Bình Dương chỉ buộc người sử dụng phải trả giá sức lao động gần hơn với mức giá mà lẽ ra người lao động được hưởng. Tạm tính, cứ mỗi công nhân của Công ty TNHH Sao Vàng thu nhập thấp hơn một công nhân cùng ngành nghề tại khu vực TP Hồ Chí Minh, Ðồng Nai và Bình Dương khoảng 5 triệu đồng/năm. Với 7.000 lao động, cứ mỗi năm Công ty Sao Vàng hoàn toàn "xênh xang" với khoản chênh lệch tiền công lao động so với các doanh nghiệp phía nam cỡ 35 tỷ đồng. Lưu ý rằng, trong sự so sánh ở trên, mức thu nhập của lao động ngành dệt - may và giày dép 1,1 - 1,3 triệu đồng/tháng/người ở TP Hồ Chí Minh, Ðồng Nai và Bình Dương chỉ là mức trung bình phổ biến.
Tại KCN Tân Bình (quận Tân Phú, TP Hồ Chí Minh), các công nhân Nguyễn Trung Thông, Nguyễn Văn Thực, Nguyễn Văn Thắng, Lê Văn Hiến, trọ tại số nhà 152 đường 19-5 B phường Tây Thạnh (quận Tân Phú) cho biết: Mức thu nhập của họ đều ở mức 2,5 - 3 triệu đồng/tháng. Mức thu nhập cao này hoàn toàn không phải là của một công ty "ngoại" với vốn đầu tư và kinh nghiệm quản lý của nước ngoài. Cả bốn công nhân này đều làm việc tại Công ty dệt - may Việt Nam đóng tại KCN Tân Bình.
Ðành rằng, trong nền kinh tế thị trường, các nhà DN - người sử dụng lao động có quyền trả giá sức lao động theo sự thỏa thuận với những người lao động. Mục đích của chúng tôi là muốn làm rõ mức độ thua thiệt về thu nhập của người lao động trong một số doanh nghiệp ngành dệt - may và giày dép nói riêng và trong các doanh nghiệp thuộc KCN, KCX nói chung.
Tại khu kinh tế Dung Quất (tỉnh Quảng Ngãi), chúng tôi đến Xí nghiệp may Dung Quất thuộc Công ty cổ phần may Phương Ðông. Phó Giám đốc Phùng Thị Hảo cho biết: Xí nghiệp đi vào sản xuất từ tháng 10-2004, với 1.100 công nhân, làm việc tại 17 dây chuyền sản xuất, thu nhập của công nhân khoảng 1,1 - 1,3 triệu đồng/người/ tháng. Ðược hỏi về hiệu quả sản xuất, chị Hảo than thở: "Lỗ lắm, nhưng vì nhiệm vụ, cho nên chúng tôi phải làm thôi". Thật lạ, công ty cổ phần mà hoạt động chỉ vì nhiệm vụ. Trong khi đó, trước cửa công ty có tấm biển với nội dung: cần tuyển 300 công nhân may công nghiệp, cán bộ kỹ thuật. Chị Hảo cho biết thêm: Công ty vừa đầu tư thêm hai dây chuyền sản xuất, nhưng chỉ tuyển đủ lao động cho một dây chuyền. Chúng tôi băn khoăn: Ðang lỗ thì mở rộng sản xuất làm gì? Chị Hảo chống chế: Trước đây lỗ nhiều, nay lỗ ít mới dám mở rộng sản xuất?(!).
Dù một số chủ DN luôn kêu than về sản xuất khó khăn, thị trường bị thu hẹp, sản phẩm bị cạnh tranh quyết liệt..., nhưng việc các cơ sở dệt - may và giày dép liên tục mở rộng quy mô sản xuất; việc các chủ DN dệt - may phải chi những khoản tiền lớn để chạy hạn ngạch xuất khẩu trong thời gian qua, cho thấy số đông các DN này vẫn thu lãi lớn, và mức giá nhân công hiện nay vẫn còn thấp so với mức giá mà người lao động đáng được hưởng. Việc các DN chưa trả lương xứng đáng cho người lao động có phần do áp lực cần có việc làm; có phần do người lao động không được cung cấp đầy đủ thông tin giúp họ hiểu rõ giá trị lao động của mình trong quá trình ký hợp đồng lao động và các thỏa ước lao động.
Nhà trọ công nhân lèn như cá hộp
Khu nhà trọ cho công nhân thuê của chủ nhà Nguyễn Thị Bích Hạnh tại 77 đường số 5, khu phố 3, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân (TP Hồ Chí Minh) cao ba tầng, với 25 phòng. Hai đầu khu nhà gác là hai cầu thang bằng thép hàn xoắn ốc dựng đứng hun hút. Ðây là loại cầu thang thoát hiểm ít khi dùng. Vậy mà lại là trục giao thông chính của hơn trăm con người. Một người tầm vóc dù chỉ trung bình khi lên, xuống cầu thang này đều nơm nớp cúi đầu, vặn người theo xoắn ốc, nếu sơ ý là bươu đầu. Mỗi tầng gác gồm một hành lang rộng 0,7 m giữa hai dãy phòng đều tăm tắp. Mỗi phòng có diện tích 7,2 m2 (3 x 2,4) , có đủ cả gác lửng, bếp, toilet. Cái gọi là toilet thì người ta chỉ có thể tắm đứng. Khi mặc áo, dứt khoát phải duỗi tay ra bên ngoài. Giá cho thuê một căn phòng là 500 nghìn đồng, chưa kể tiền điện, nước. Thông thường, một công nhân không dám chi quá 10% thu nhập cho nhu cầu ở. Với mức thu nhập phổ biến xấp xỉ 1 triệu đồng/tháng, phải sáu công nhân mới đủ tiền thuê một căn phòng như vậy. Với diện tích bình quân 1,2 m2/người, sống ở nơi đây là cả một "nghệ thuật". Trong một căn phòng, chúng tôi gặp sáu công nhân nữ thuê chung là Huỳnh Thị Lanh, Huỳnh Thị Hòa, Lê Thị Hà, Trần Thúy Hằng, Trần Thị Thùy Trang và Huỳnh Thị Lý. Tất cả đều là công nhân trong KCN Tân Tạo kề đó. Hôm đó là ngày cuối tuần, anh Lê Hữu Quốc là chồng của chị Huỳnh Thị Lanh từ quê ở Bến Tre lên thăm. Các chị trong phòng cùng vợ chồng anh Quốc tiếp anh Ðào Thành Tài cũng là công nhân trong KCN Tân Tạo, cùng là đồng hương Bến Tre đến chơi bằng một bữa nhậu sương sương: một chai rượu trắng, một đĩa ổi, mận (roi), cóc và ít muối ớt. Tối đến, các thành viên ở phòng sẽ tự động đi ngủ nhờ, nhường căn buồng lại cho đôi vợ chồng Lanh, Quốc.
Căn nhà cho thuê nêu trên hoàn toàn không phải là một sáng tạo ngoại lệ. Chỉ riêng khu phố 3 đã có hàng chục căn nhà tương tự. Dù muốn ở rộng, nhưng do thu nhập thấp, cho nên tiền thuê nhà không quá 10% thu nhập mỗi người. Bởi vậy, thay cho phấn đấu để được hưởng điều kiện sống tốt hơn, những công nhân trong các KCN có xu hướng hạ thấp nhu cầu ở cho phù hợp hoàn cảnh.
Khu nhà trọ bình dân ở đối diện KCN Tân Tạo (quận Bình Tân) qua quốc lộ 1A, được cải tạo từ một khu nhà xưởng cũ. Nhìn khu nhà lụp xụp, mái tôn gỉ nát, không thể ngờ có cả trăm con người sống chen chúc trong đó. Mỗi phòng cho thuê rộng khoảng 10 m2, tường lửng chỉ cao hơn 2 m bằng gạch xây không trát, trên nữa được quây bằng lưới B40. Về tổng thể, dù có óc tưởng tượng phong phú cũng không thể coi đó là chỗ ở. Một phòng ở trọ ẩm thấp, tăm tối ngay cả giữa ban ngày như thế có giá 350 - 380 nghìn đồng/tháng. Ðây cũng không phải là trường hợp cá biệt.
Có những thời điểm, công nhân ở một số KCN tại Bình Dương đã phải sống trong những trại gà công nghiệp được cải tạo qua loa. Càng xa các trung tâm đô thị, giá thuê phòng trọ của công nhân càng giảm. Tuy nhiên, các DN ở xa trung tâm thường trả lương công nhân không cao.
Tại khu nhà trọ của công nhân ở ấp Tân Hóa, xã Hóa An (TP Biên Hòa, Ðồng Nai), chúng tôi gặp bốn công nhân nữ chung phòng là Nguyễn Thị Ðoan Lĩnh, Nguyễn Thị Ðào và hai chị em gái Ðặng Thị Thủy, Ðặng Thị Hòa. Thu nhập cả bốn người mới được tăng lên từ 850 đến hơn 900 nghìn đồng/người/ tháng. Trước đợt đình công hồi đầu năm, thu nhập của họ chỉ xấp xỉ
600 nghìn đồng/người/tháng. Căn phòng trọ cấp 4 lợp tôn của bốn người rộng khoảng 15 m2, không có công trình phụ riêng. Cả khu nhà trọ với khoảng 150 công nhân dùng chung hai buồng tắm và ba nhà vệ sinh được xây sơ sài. Hỏi làm sao có thể đủ cho ngần ấy con người, chị Lĩnh trả lời: Phòng tắm dành cho nữ, còn nam tắm ngay cạnh bể nước... Giá cho thuê một căn phòng trọ với tiện nghi như vậy là 300 nghìn đồng/tháng.
Bữa ăn tập thể chất lượng rất kém
Góp thêm vào nỗi khổ của công nhân trong một số KCN, KCX là bữa ăn tập thể do DN tổ chức vào giữa ca làm việc. Tùy DN, chi phí mỗi suất ăn từ bốn đến sáu nghìn đồng. Có DN chỉ chịu một nửa chi phí, phần còn lại công nhân gánh.
Tại KCX Linh Trung, Chủ tịch HÐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty phát triển KCN Sài Gòn, Trần Văn Diệu cho biết, bữa ăn giữa ca của người lao động chỉ có 4.000 đồng. Như vậy, chỉ có cơm, bát canh và vài con cá linh hoặc cá nục (bằng hai ngón tay kho mặn). Công nhân nam ăn không đủ no. Tiền tăng ca không mua nổi mớ rau muống. Tại Công ty Freeland trước khi xảy ra đình công 1.000 công nhân úp khay cơm không ăn, do cơm sống thường xuyên, thịt lợn phần lớn là mỡ và có mùi, nước uống không có. Món ăn không đổi gọi là ăn cơm "lưu niên". Nghĩa là cơm dư hấp lại thường xuyên có mùi, có lúc bị nhão, nát. Theo chị Nguyễn Thị Thu Hương, công nhân Công ty Huệ Phong (Gò Vấp), ăn 4.000 đồng là cao. Nhiều chị em chỉ ăn 2.000 đồng gồm cơm, rau luộc, nước mắm, vì còn phải dành tiền gửi về quê giúp gia đình.
Theo quan sát của chúng tôi tại cổng KCN Tân Tạo, có 50 - 70% số công nhân ở các KCN, KCX do ăn không đủ chất, nước da xanh, người luôn ở trạng thái mệt mỏi. Ở một số quán, nhà ăn sát KCX, KCN Tân Thuận, Linh Trung, mặc dù lợn, gà bị bệnh, song các nhà ăn tư nhân vẫn vô tư mua về để nấu bán cho công nhân với giá rẻ. Nhiều công nhân vẫn vô tư ăn, vì không có tiền. Có người cho biết, mua món ăn đến 5.000 đồng/bữa là xa xỉ.
Theo Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP Hồ Chí Minh Nguyễn Thiện Nhân, bữa ăn giữa ca tại một số nhà ăn tập thể có thực đơn không đổi, không còn là cho con người ăn. Tại nhà ăn của một DN mà ngày hôm trước có khoảng 1.000 công nhân bỏ cơm. Mặc dù biết trước có đoàn lãnh đạo thành phố xuống làm việc và như anh em công nhân phản ánh: Có khá hơn mọi khi; tuy nhiên, chất lượng bữa ăn vẫn không tưởng tượng nổi. Dù suất ăn hạn chế, nhưng khá nhiều khay cơm ăn không hết. Thức ăn là vài miếng thịt bạc nhạc, cơm sống, nhão. Hỏi vì sao thì được trả lời: Do đông người, bếp ăn của nhà máy tổ chức thành ba đợt ăn liên tục, cách nhau 30 phút. Cơm nấu bằng lò hơi, xong đợt đầu dỡ ra, nấu tiếp đợt sau. Do thời gian quá ngắn, cơm nấu không kịp chín. Ngày nào cũng vậy, năm nào cũng vậy, công nhân ăn đợt hai, đợt ba thường xuyên phải ăn cơm sống, nhão. Chai nước tương rưới cơm chỉ đủ cho hai đợt ăn đầu, đợt cuối bao giờ cũng hết. Bếp ăn tập thể, nhưng không có thùng đựng nước uống. Ai khát thì ra vòi mà tu nước lã. Những công nhân được hỏi đều cho rằng bữa ăn do họ tự nấu lấy dù ít hơn một nghìn đồng mà vẫn ngon hơn, chất lượng hơn. Với cách tổ chức bếp ăn tập thể như vậy, vệ sinh thực phẩm lại không được kiểm tra, có thể cắt nghĩa phần nào tại một số KCN, KCX việc công nhân thường bị ngộ độc thức ăn tập thể nhiều như thế.
Ðời sống tinh thần rất thiếu thốn
Vấn đề bức bách đang đặt ra là người lao động ở các KCN, KCX đã bị "dạt" ra bên ngoài đời sống văn hóa tinh thần tại địa phương nơi mình làm việc. Chủ DN cho rằng, họ thuê công nhân đến làm việc trả lương và thực hiện các chế độ bảo hiểm đúng quy định là đủ, không có trách nhiệm phải tổ chức các hoạt động văn hóa. Còn chính quyền địa phương lại cho rằng chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động là trách nhiệm của DN.
Vậy là, để có việc làm, hầu hết công nhân trong một số KCN, KCX tự thui chột những nhu cầu cơ bản nhất, chính đáng nhất, tốt đẹp nhất về đời sống văn hóa tinh thần.
Thời bao cấp, như chúng ta còn nhớ, cứ mỗi khi một nhà máy được hình thành, một trong những công trình đầu tiên được xây dựng là khu nhà ở công nhân, nhà văn hóa, trạm y tế, nhà trẻ, mẫu giáo và trường học kế tiếp mọc lên. Nhiều khu dân cư sầm uất, trở thành thị tứ từ các khu nhà ở công nhân như thế.
Nhưng, hơn mười năm phát triển KCN, KCX, trong 15 KCN, KCX của TP Hồ Chí Minh, chỉ có duy nhất KCX Tân Thuận xây dựng nhà văn hóa công nhân, với một bể bơi nhỏ, dăm bàn bóng bàn, bi-a và vài phòng dạy khiêu vũ, nữ công gia chánh... Nhà văn hóa công nhân duy nhất này chỉ đủ năng lực đáp ứng nhu cầu cho vài trăm công nhân mỗi ngày trên tổng số 50 nghìn công nhân của KCX. Thực tế, chỉ có những nhân viên văn phòng của các DN trong KCX mới có điều kiện tới nhà văn hóa này. Tình trạng phổ biến khắp các KCN, KCX trong cả nước là chưa có nhà văn hóa công nhân.
Trong cảnh sống tạm bợ, hầu hết công nhân trong KCN, KCX đều không có ý định làm việc lâu dài mà chỉ tranh thủ kiếm tiền giúp đỡ gia đình, người thân, tích luỹ ít vốn cho tương lai. Mức thu nhập cơ bản của công nhân tại các KCN, KCX thường chỉ vừa đủ cho các nhu cầu cơ bản của cá nhân. Vì vậy, để có thêm thu nhập, phần lớn số công nhân đều chấp nhận làm tăng giờ, tăng ca, mỗi ngày 12 giờ, thậm chí 14 giờ. Sau ngày làm việc, trở về phòng trọ, họ chỉ kịp vệ sinh cá nhân qua loa, vật xuống ngủ mê mệt. Nhiều công nhân tâm sự: Có lần lãnh đạo Tổng LÐLÐ đến thăm, động viên chúng em chịu khó học hành. Nhưng làm tăng ca, xoay ca liên tục như tụi em thì có kiểu lớp học nào để theo cho nổi. Là công nhân làm việc trong các DN nước ngoài, hưởng lương tính bằng USD, nhưng cuộc sống cực kỳ tạm bợ, tồi tàn, không có cơ hội được hưởng những thành quả của văn minh đô thị.
Trong số hàng chục phòng trọ công nhân mà chúng tôi ghé thăm trên mười tỉnh, thành phố khắp cả nước, số phòng trọ có các phương tiện nghe, nhìn như đài, máy thu hình rất ít. Rất hiếm gặp một cuốn sách loại dày hơn 100 trang, thỉnh thoảng mới có một vài tờ báo cũ vừa để đọc, vừa để gói đồ.
Theo Phó Chủ tịch Công đoàn các KCX, KCN TP Hồ Chí Minh, Nguyễn Trung, đời sống văn hóa, tinh thần của người lao động ở các KCN, KCX còn khá nghèo nàn, đơn điệu. Thật sự là thiếu thốn. Theo điều tra sơ bộ: Ngoài giờ làm việc chỉ có 41,6% số công nhân thỉnh thoảng xem truyền hình; 40,3% đọc báo; 29,6% nghe đài thu thanh; chỉ 14,5% số công nhân đi xem phim, ca nhạc. Nguy hiểm hơn, do áp lực về kinh tế, một bộ phận còn tự triệt tiêu nhu cầu hưởng thụ văn hóa của mình, đồng thời do chưa theo kịp lối sống công nghiệp, tâm lý tự ti thiếu giáo dục từ nhiều phía, một bộ phận công nhân bị kích động lôi kéo theo chiều hướng không tốt.
Trong các DN tại KCN, KCX hầu như không có một tổ chức, đoàn thể nào nắm vai trò tập hợp, định hướng cho công nhân. Trong tổng số hơn 800 DN tại 15 KCN, KCX của TP Hồ Chí Minh mới chỉ có 350 DN có tổ chức công đoàn và cũng chỉ là hình thức. Tất cả các cuộc đình công, bãi công đã xảy ra đều không thông qua các tổ chức công đoàn và các lãnh đạo công đoàn của DN cũng bất ngờ như giới chủ.
Ông Nguyễn Thiện Nhân nhận xét: Mọi chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều nằm lại ngoài hàng rào các KCN, KCX vì thiếu những "cánh tay nối dài" trong các DN. Ngược lại, thành phố cũng hoàn toàn không hiểu biết gì về tâm tư, nguyện vọng của người thợ.
Cầu nối có ý nghĩa nhất của công nhân trong KCN, KCX là gia đình của họ. Hầu như công nhân nào cũng mỗi tháng dành vài trăm nghìn đồng gửi về quê giúp gia đình hoặc phụ giúp người thân ăn học. Tại nhà C5, tổ 2, khu phố 4, phường Tân Hiệp (TP Biên Hòa, Ðồng Nai), chúng tôi gặp Phạm Thị Sen, 20 tuổi, quê ở Hoành Sơn (Giao Thủy, Nam Ðịnh), là công nhân tại KCN Biên Hòa 1. Sen đã làm được một năm, thu nhập hơn một triệu đồng/tháng. Mỗi tháng, Sen gửi 500 - 600 nghìn đồng giúp anh trai là Phạm Trọng Cứ đang học Ðại học Y TP Hồ chí Minh. Nguyễn Thị Thu Trang quê ở Hoài Nhơn (Bình Ðịnh), trọ tại số 10/4 đường Lê Trọng Tấn, phường Sơn Kỳ (quận Tân Phú, TP Hồ Chí Minh), là công nhân Công ty thủy sản xuất khẩu Việt - Mỹ (KCN Tân Bình). Ðã hai năm nay, tháng nào Trang cũng gửi 400 - 500 nghìn đồng giúp người em đang học trung cấp ngân hàng ở Phú Yên. Công nhân Nguyễn Thị Giàu trọ tại khu nhà trọ bình dân gần KCN Tân Tạo (TP Hồ Chí Minh), mỗi tháng gửi 600 - 700 nghìn đồng nuôi em là Nguyễn Thị Yến, 23 tuổi đang theo học Trường đại học Sư phạm kỹ thuật Thủ Ðức. Là công nhân của Công ty Pouchen trong KCN Tân Tạo, mỗi tháng thu nhập chỉ hơn một triệu đồng, để có tiền giúp em gái, Giàu nhận may thuê ngoài giờ với giá bình dân, mỗi tối kiếm thêm năm, mười nghìn đồng. Khi Yến tốt nghiệp, Giàu đã 30 tuổi. Quỹ thời gian để lo hạnh phúc cho riêng mình đã gần cạn.
Mới đây, khi lý giải về các cuộc đình công, bãi công hồi đầu năm, một cán bộ ngành lao động, thương binh và xã hội cho rằng, một phần do công nhân nhận thức chưa cao, trình độ văn hóa thấp.
Ðược gần những người thợ trong thời gian qua, chúng tôi xin được trả lời thay họ: So với lớp công nhân nước ta trước năm 1945, chắc chắn nhận thức của giai cấp công nhân hôm nay không kém lớp cha anh của mình. Ðội ngũ công nhân hôm nay là những người yêu nước, cần cù lao động phấn đấu, vì sự nghiệp CNH, HÐH đất nước, và vì cuộc sống của mình và những người thân. Ðội ngũ những người thợ hôm nay vẫn mang trong mình những phẩm chất cao quý nhất của người lao động chân chính và sáng tạo.
(Còn nữa)