Vào mùa hè nóng bỏng năm 1965, cùng với việc đưa các đơn vị quân viễn chinh Mỹ vào trực tiếp tham chiến, một khối lượng khổng lồ vũ khí, phương tiện chiến tranh, thiết bị chiến trường, hậu cần bảo đảm cũng được chuyển vận đêm ngày bằng đường biển, đường không tới. Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại miền nam, ngay từ đầu, đã phải dồn sức vào việc thiết lập hệ thống quânsự trên khắp chiến trường, bao gồm hàng loạt căn cứ tác chiến của các sư đoàn, lữ đoàn, thiết đoàn; căn cứ không quân, hải quân; căn cứ hậu cần, kỹ thuật - nơi tích lũy lương thực, thực phẩm, vũ khí, đạn bom, phương tiện chiến tranh và nhiều loại thiết bị chiến trường khác của các quân chủng lục quân, không quân, hải quân Mỹ.
Để thiết lập và bảo vệ hệ thống căn cứ dày đặc đó, quân Mỹ và quân ngụy Sài Gòn ráo riết mở các hoạt động quân sự rất quyết liệt nhằm "dọn mặt bằng", nới rộng vành đai trắng chung quanh căn cứ.
Trước sự uy hiếp dữ dội của kẻ thù, nhiều nơi, cơ sở chính trị và lực lượng vũ trang ta bị đánh tróc, đánh bật khỏi địa bàn; một bộ phận quần chúng và cán bộ, đảng viên tỏ ra hoang mang; ở một số địa phương, nhân dân bỏ vào vùng địch kiểm soát để tránh bom đạn Mỹ...
Tình hình đó đặt ra cho lãnh đạo, chỉ huy các cấp ở chiến trường vấn đề cấp bách là phải tìm ra cách thức, biện pháp, để trong điều kiện quân Mỹ chiếm ưu thế áp đảo về quân số, vũ khí, trang bị, hỏa lực, sức cơ động, vẫn trụ bám địa bàn đánh địch, tiếp tục giữ vững thế chủ động tiến công, không cho địch phân vùng, phân tuyến - một cố gắng thường xuyên của quân Mỹ trong suốt cuộc chiến tranh xâm lược.
Sau một quá trình suy nghĩ, chọn lựa giải pháp khả dĩ, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Khu 5 thống nhất chủ trương tổ chức lại lực lượng và thế trận chiến tranh nhân dân trên địa bàn toàn khu, mà trước hết là ở các địa phương có căn cứ quân sự Mỹ, bảo đảm cho lực lượng vũ trang và nhân dân có điều kiện bám trụ để tiến công quân Mỹ ngay tại căn cứ xuất phát hành quân, nghĩa là đánh gần, đánh quần lộn, đánh hiểm, đánh sâu vào căn cứ quân sự Mỹ. Ngay sau đó, hệ thống làng xã, thôn ấp chiến đấu hình thành và phát triển trong những năm "chiến tranh đặc biệt" trước đây, được tổ chức lại thành "vành đai" bao vây, áp sát những căn cứ quân sự Mỹ.
Thế trận chiến tranh nhân dân kiểu "vành đai" không phải là một tập hợp đơn giản các làng xã, thôn ấp chiến đấu sẵn có, mà là sự gắn bó chặt chẽ trên các phương diện (như hệ thống tổ chức lãnh đạo, chỉ huy; hệ thống công sự, trận địa; bố trí và phối hợp giữa các lực lượng; công tác bảo đảm hậu cần, thông tin, liên lạc...) đủ tạo nên sức mạnh và tính bền vững của thế trận này. Một cách tổng quát, có thể hình dung rằng, toàn bộ làng xã, thôn ấp chiến đấu giờ đây được tổ chức lại thành một hệ thống gắn bó, theo một chủ trương thống nhất, có Ban chỉ huy chung, đặt dưới sự lãnh đạo của các Thường vụ Tỉnh ủy, sự điều hành của Ban chỉ huy quân sự tỉnh. Nhiệm vụ chủ yếu của Ban chỉ huy "vành đai" là tổ chức điều hành hoạt động đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị và công tác binh vận của toàn bộ lực lượng vũ trang, lực lượng chính trị trên mặt trận "vành đai".
Chiến đấu và công tác trên mặt trận này trước hết và chủ yếu là các tổ, các đội săn cơ giới, bắn máy bay, bắn tỉa, pháo cối mang vác, trinh sát... Những tổ, đội trên được tổ chức gọn, trang bị vũ khí "nhẹ" để cơ động linh hoạt, thực hiện các cuộc tập kích, phục kích chớp nhoáng vào sâu căn cứ Mỹ hoặc nhằm vào các toán lính và xe cơ giới Mỹ lùng sục bên ngoài hàng rào căn cứ.
Bên cạnh đó, lực lượng đấu tranh chính trị, binh vận bao gồm đông đảo phụ nữ mà nòng cốt là các nữ dân quân, du kích cũng được tổ chức ở các "vành đai". Họ làm nhiệm vụ bảo đảm hậu cần cho lực lượng chiến đấu, cất giấu và cứu chữa thương binh, bệnh binh, cắm chông, đặt bẫy, đào công sự hầm hào, chặn đầu các đoàn xe hoặc các toán lính Mỹ khi chúng nống ra càn quét, cày ủi ruộng vườn...
Cuối cùng, mặt trận "vành đai" được tổ chức thành các tuyến hoặc các khu vực tùy điều kiện địa hình từng nơi. Ở mỗi tuyến, mỗi khu vực đều có hệ thống công sự, trận địa, hầm bí mật, hào giao thông bảo đảm cho việc bám trụ địa bàn, sản xuất, chiến đấu của lực lượng vũ trang và nhân dân. Như thế, "vành đai" là bước phát triển mới, đồng thời là biểu hiện sinh động của chiến tranh nhân dân; là thế trận của lòng dân, của sức dân, của ý chí, nghị lực, sự sáng tạo của con người Việt Nam thời đánh Mỹ.
Ngay sau ngày xuất hiện các "vành đai diệt Mỹ" ở Chu Lai, Đà Nẵng, An Khê thuộc địa bàn Khu 5, hình thức tổ chức thế trận này nhanh chóng được các địa phương miền nam vận dụng sáng tạo tùy theo điều kiện địa hình cụ thể và tình hình thực tế của mỗi nơi. Dựa trên thế trận lợi hại đó, với sự giúp đỡ của nhân dân địa phương, các đơn vị vũ trang ta đã mở một số trận chiến đấu nhằm vào quân Mỹ và giành thắng lợi ở Núi Thành, Vạn Tường, Đất Cuốc, Bàu Bàng... Rồi, "vành đai" còn là địa bàn cho lực lượng vũ trang từ các địa phương khác tới hoạt động nhằm rèn luyện, rút kinh nghiệm, tích cực chuẩn bị cho việc đón đánh quân Mỹ tại quê hương mình.
Theo thời gian, cùng với việc gia tăng lực lượng quân Mỹ và chư hầu, kéo theo nhiều căn cứ quân sự mới được thiết lập, là việc thế trận chiến tranh nhân dân chung quanh các căn cứ các vùng ven đô thị tiếp tục được tổ chức lại thành thế trận "vành đai". Tại đó, quân dân ta đã tổ chức các trận đánh sâu, đánh hiểm, đồng thời thường xuyên duy trì các hoạt động quấy rối, tiêu hao, tạo nên áp lực uy hiếp ngày càng tăng toàn bộ hệ thống căn cứ quân sự Mỹ.
Theo cuốn Từ điển chiến tranh Việt Nam xuất bản ở Mỹ năm 1988, có tới 90% số thương vong của lính thủy đánh bộ Mỹ ở căn cứ Đà Nẵng là do mìn, chông, súng bắn tỉa của đối phương. Mười tháng đầu của năm 1967, tại một loạt sân bay như Đà Nẵng, Chu Lai, An Khê, Plây Cu, Nha Trang, pháo binh và đặc công hoạt động ở trên "vành đai" đã phá hỏng, phá hủy 476 máy bay các loại của quân Mỹ. Ngoài ra, như một số tác giả Mỹ sau này nhận xét, ở miền nam, Quân giải phóng đã vô hiệu hóa một phần không lực Mỹ bằng đặc công, bằng việc sử dụng đường hầm vào ban đêm và bằng cách buộc quân Mỹ dùng nhiều máy bay để bảo vệ căn cứ. Còn như, việc quân Mỹ thường xuyên sử dụng pháo binh dội đạn ra các khu vực chung quanh thì " các lực lượng cách mạng đối phó bằng cách đánh vào căn cứ pháo binh cố định hoặc dã chiến".
Bộ máy thống kê của Lầu năm góc ghi nhận: trong năm 1969, có nhiều cuộc tiến công của đặc công đối phương vào các căn cứ Mỹ, "mỗi cuộc gây ít nhất một triệu đô-la thiệt hại". Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại miền nam buộc phải tập trung một bộ phận binh lực quan trọng - có lúc lên tới hơn 40% trong tổng số gần nửa triệu quân Mỹ, vào nhiệm vụ phòng giữ căn cứ.
Dễ hiểu vì sao, suốt những năm theo đuổi chiến lược "chiến tranh cục bộ", viên Tư lệnh chiến trường Westmoreland n luôn hối thúc Washington tăng quân vào miền nam. Góp phần tạo nên thế "lưỡng nan" này của quân Mỹ có vai trò của các "vành đai diệt Mỹ". Nhìn lại những năm tháng ấy, người ta thấy "số quân Mỹ và Việt Nam cộng hòa chiếm ưu thế so với lực lượng cách mạng kể từ sau năm 1965 và đến năm 1967 thì tỷ lệ đó là 4,7 trên 1. Trong cùng năm, vì cách mạng ghìm Mỹ và đồng minh Mỹ trong những vị trí tĩnh tại, cho nên cách mạng vượt họ về quân chiến đấu dành cho các cuộc tiến công"(1).
NGAY khi cuộc chiến tranh cục bộ đang diễn ra ác liệt ở Việt Nam, bên kia bờ Thái Bình Dương, những người viết Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ nhận xét: "ý nghĩa cơ bản nêu rõ trong chiến lược "tìm và diệt" là muốn đưa cuộc chiến tranh đến tận xứ sở của đối phương, làm cho đối phương không thể tự do đi lại ở bất cứ nơi nào trên mặt đất... và giáng cho đối phương những đòn thật nặng nề".
Thế nhưng, trải qua hai mùa phản công chiến lược, quân Mỹ chẳng những không sao thực hiện được mục tiêu trên đây mà ngược lại, bị hao tổn nặng nề về sinh lực và phương tiện chiến tranh, bị vây hãm trong thế trận chiến tranh nhân dân. Thế trận đó xen cài giữa vùng địch kiểm soát, bao gồm vùng căn cứ, vùng giải phóng, vùng làm chủ, "vành đai diệt Mỹ" bao vây, áp sát và thường xuyên uy hiếp các căn cứ quân sự Mỹ cũng như các vùng ven đô thị, các trục lộ giao thông huyết mạch trên khắp chiến trường.
Trên thế trận này, quân dân "vành đai" thực hành chiến lược tiến công rộng khắp, liên tục, ngày càng mạnh mẽ cả về quân sự, chính trị, binh vận; bằng nhiều hình thức, mọi lúc, mọi nơi và với mọi loại vũ khí sẵn có trong tay, kể cả việc tiến công sâu vào các căn cứ xuất phát hành quân, các căn cứ hậu cần - kỹ thuật của quân Mỹ trên khắp chiến trường. Đấy rõ ràng là một trong số những tiền đề quan trọng để chúng ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân.
Trên thực tế, các "vành đai diệt Mỹ" chẳng những góp phần ghìm chân một bộ phận quan trọng sinh lực quân Mỹ, tạo điều kiện cho quá trình chuẩn bị "Tết Mậu Thân" diễn ra tuyệt đối bí mật cho dù hàng bao sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn chủ lực Quân giải phóng rời căn cứ, qua bao làng mạc, xóm ấp để về áp sát vùng ven đô thị trên toàn miền... mà còn là địa bàn tập kết lực lượng quân sự, chính trị, là bàn đạp xuất phát tiến công của quân dân miền nam trong dịp Tết Mậu Thân.
------
(1) G. Kolko: Giải phẫu một cuộc chiến tranh, tập 1, Nxb QĐND. H. 1994, tr. 193.