Tôi rất vinh dự được Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam mời đến phát biểu tại hội nghị này và xin cảm ơn các vị đại biểu, VAVA và những người tổ chức hội nghị.
Tôi xin tóm tắt ngắn những gì cho đến nay đã được biết liên quan đến vấn đề chất da cam/dioxin tại Việt Nam. Tôi sẽ giới thiệu những kết quả chính của công tác nghiên cứu khoa học được tiến hành bởi Ban 10-80 của Bộ Y tế (Việt Nam) và công ty tư vấn Hatfield (Canada) trong 12 năm qua. Đặc biệt, tôi sẽ khái quát những kết quả nghiên cứu sơ bộ của chúng tôi thu được tại vùng A Lưới, cũng như những khảo sát gần đây hơn về dioxin của những "Điểm nóng" chung quanh các căn cứ cũ của quân đội Hoa Kỳ ở nam Việt Nam. Vì thời gian ngắn, tôi chỉ đề cập những vấn đề then chốt liên quan đến những tác động môi trường của chất da cam/dioxin, để giúp cộng đồng quốc tế hiểu rõ hơn thực trạng hiện nay, và giúp giải quyết vấn đề có tính dài hạn này.
Từ 1994, Hatfield và Ban 10-80 đã làm việc cùng nhau tiến hành khảo sát chất da cam/dioxin trong một số tỉnh của Việt Nam. Điều quan trọng cần chú ý là ngay từ 1970, một số các nhà nghiên cứu quốc tế và Việt Nam đã tham gia những khảo sát khoa học đối với chất da cam/dioxin tại Việt Nam, gồm có Giáo sư BS Hoàng Đình Cầu, BS Lê Cao Đài, Giáo sư TS Võ Quý, Arthur West, Ts. Arnold Schecter, và nhiều người khác nữa. Những cá nhân này đã có những đóng góp quan trọng trong việc giúp chúng ta hiểu sâu hơn về những tác động do chất da cam/dioxin gây ra đối với môi trường và con người Việt Nam.
Người ta đánh giá rằng 10-12% diện tích nam Việt Nam đã bị rải chất da cam và các loại thuốc diệt cỏ khác, và rằng hơn 600 kg dioxin đã được thả vào trong môi trường. Dioxin là một chất có độc tính cao, một hợp chất hoá học rất bền vững có thể tồn tại trong môi trường đến nhiều thập niên, có lẽ hàng trăm năm. Vì nó tồn lưu lâu dài, và có tính chất lipophilic (nghĩa là dioxin có thể bám chắc vào mỡ người), nó đi vào thức ăn và nằm trong các cơ quan nội tạng động vật, cả trong sữa và máu người.
Dioxin có quan hệ đến một số bệnh ung thư và các vấn đề miễn dịch trong con người. Các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm về động vật cũng cho thấy có hàm lượng độc tính cao.
Mối quan tâm chính liên quan đến dioxin trong môi trường của Việt Nam là những người sống gần các căn cứ quân sự cũ của Hoa Kỳ tiếp tục tiếp xúc với đất đai và những sản phẩm thức ăn nhiễm dioxin. Thậm chí những người sinh ra sau chiến tranh cũng có nguy cơ bị nhiễm dioxin, nhưng chỉ cần có biện pháp giảm thiểu đơn giản thì vấn đề này sẽ được giải quyết.
Thông qua sử dụng các chất diệt cỏ chứa dioxin, chiến tranh Việt Nam đã để lại một hậu quả ô nhiễm môi trường cho đến tận ngày nay.
Có hai tác động chính do sử dụng chất da cam tại nam Việt Nam vào những năm 1960:
a) Tàn phá sinh thái; và, b) Tác động đến sức khỏe con người.
Những tác động đối với sinh thái của việc sử dụng chất da cam bao gồm khả năng phá hủy những vùng đất thượng du rừng rậm (xấp xỉ 2,0 triệu ha đã bị phá hủy), phá hủy khoảng 55% diện tích rừng ngập mặn Việt Nam, và làm suy giảm nghiêm trọng số lượng sinh vật hoang dã và các loài chim của những vùng đất này. Phần lớn những vùng này đã không thể phục hồi được đầy đủ. Trong vùng A Lưới, nơi Ban 10-80 và Hatfield đã tiến hành nghiên cứu toàn diện, số lượng loài động vật có vú, giảm bớt từ 40 xuống còn năm loài; số lượng chim rút xuống đáng kể từ 160 còn 25 loài.
Về những hiệu ứng đối với sức khỏe con người, chất da cam và dioxin có liên quan đến nhiều loại ung thư, bệnh về miễn dịch và dị tật bẩm sinh spina bifida. Chứa chất da cam và bệnh đái đường týp 2 cũng có mối liên hệ với nhau.
Những bài học gì đã được rút ra từ công trình nghiên cứu của Hatfield và Ban 10-80 tại Việt Nam?
Trước hết, công cuộc nghiên cứu của chúng tôi là tìm kiếm những giải pháp cho những người sống gần căn cứ A So nằm trong xã Đông Sơn. Nguồn nhiễm bẩn tại một điểm nóng dioxin được xác định là phát sinh từ một cơ sở quân sự cũ của quân đội Hoa Kỳ. UBND xã đã có những biện pháp phù hợp nâng cao nhận thức về vấn đề này, và tái định cư một số nhân dân địa phương nhằm giảm bớt tình trạng phơi nhiễm dioxin trong tương lai.
Hai là, chúng tôi phát triển một phương pháp luận toàn diện và có khả năng lặp lại để đánh giá tình hình ô nhiễm trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Phương pháp đó bao gồm môn hoá học môi trường, dịch tễ học và nghiên cứu y tế công để dò tìm dấu vết chuyển động của dioxin từ điểm bắt đầu trong đất và trong bùn cặn đến dây chuyền thức ăn, sự chuyển động từ dây chuyền thức cai vào trong sữa mẹ và máu người.
Thứ ba là, "Lý thuyết điểm nóng" của Ban 10-80 và Hatfield được xây dựng từ công việc được tiến hành tại A Lưới của chúng tôi. Lý thuyết này liên quan đến các quan điểm cho rằng sự phân bổ của dioxin trong những vùng của miền nam Việt Nam tương tự như tình hình phân bổ tại huyện A Lưới; nghĩa là những vùng bị phun rải không bị ô nhiễm cao, nhưng các căn cứ cũ của Hoa Kỳ lại có khả năng nhất bị nhiễm bẩn có liên quan chất da cam/dioxin. Những người sống trong những vùng bị rải chắc chắn gặp nguy cơ bị nhiễm độc dioxin trong nhiều năm sau khi chiến tranh kết thúc; tuy nhiên, qua thời gian, hàm lượng dioxin trong những vùng bị rải đã giảm đáng kể.
Bốn là, hàm lượng dioxin ghi được tại những điểm nóng gần các căn cứ quân sự Hoa Kỳ tại Đà Nẵng, Biên Hoà và Phù Cát đều trên mức có thể chấp nhận được theo tiêu chí quốc tế. Nếu những điểm nóng này được phát hiện tại các nước phương Tây, thì chắc chắn các cơ quan quản lý sẽ phải hành động ngay lập tức. Những biện pháp giảm thiểu cần phải nhằm loại trừ được khả năng phơi nhiễm tiềm tàng của nhân dân sống ngay bên cạnh các dòng suối ở dưới những căn cứ cũ của Hoa Kỳ.
Cuối cùng, những kết quả của công trình nghiên cứu huyện A Lưới đã được công bố trong các sách báo khoa học quốc tế để so sánh với những điểm nóng ô nhiễm dioxin tại những nơi khác trên thế giới. Sự công nhận của quốc tế đối với công trình nghiên cứu tại Việt Nam là bước quan trọng đầu tiên để có thể xử lý việc thanh khiết những điểm nóng dioxin này.
Kết luận và khuyến cáo
1. Vấn đề dioxin tại Việt Nam là có thể quản lý được. Phần lớn đất đai và các sản phẩm nông nghiệp tại Việt Nam không bị ô nhiễm dioxin.
2. Thông qua hoạt động nghiên cứu tiến hành tại huyện A Lưới, Ban 10-80 và Hatfield đã cho thấy những vùng đó từng bị máy bay phun rải chất da cam trong thời gian chiến tranh đã không còn ô nhiễm dioxin với hàm lượng cao. Những hàm lượng dioxin được tìm thấy trong đất của đa số các khu vực của Việt Nam đều thấp, và dưới mức tiêu chí quốc tế. Nhìn chung những vùng này không đặt ra mối đe doạ đến sức khỏe con người. Đây là tin tức tốt lành cho Việt Nam.
3. Tuy nhiên, đất và bùn ngay tại những con suối nằm phía dưới các căn cứ quân sự cũ của Hoa Kỳ ở Việt Nam vẫn tiếp tục đe doạ đến sức khỏe của nhân dân địa phương sống trong những vùng này. Đó là những vùng địa lý nhỏ, và số lượng chỉ vài nơi, song mật độ dân số lại cao. Điều đáng quan tâm nhất là sự tiếp xúc trực tiếp với đất và tiêu thụ cá, các cơ quan nội tạng của vịt (đặc biệt các mô mỡ), bắt được từ những hồ bên cạnh các căn cứ cũ của quân đội Hoa Kỳ gần đó, trong đó có các điểm nóng Biên Hoà, đà Nẵng và Phù Cát.
4. Công cuộc bảo vệ những người sống gần ba điểm nóng chính này cần phải xem là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu. Các chương trình nâng cao nhận thức cộng đồng là rất cần thiết cho những vùng điểm nóng này để giúp người dân giảm bớt khả năng phơi nhiễm dioxin.
5. Những địa phương thực sự có những điểm nóng trên địa bàn các căn cứ cũ của Hoa Kỳ cần phải được xác định. Công nghệ để làm sạch những nơi ấy rất sẵn có, khi những vị trí thực sự là nguồn gây ô nhiễm được khoanh lại và ngăn chặn.
6. Cần phải có trợ giúp tài chính để hỗ trợ nhân đạo cho những người bị ảnh hưởng do phơi nhiễm dioxin ở Việt Nam, và tổ chức thanh khiết các điểm nóng.
7. Thông tin về hàm lượng dioxin tại Việt Nam cần được công bố trong các sách báo khoa học quốc tế, bao gồm những kết quả nghiên cứu gần đây về các quần cư và môi trường
8. Hợp tác và thông tin quốc tế là chìa khóa để thúc đẩy quá trình này tiến lên phía trước, để cho các thế hệ tương lai người Việt Nam có thể tránh được phơi nhiễm dioxin và các hóa chất độc khác.