Phát triển sản xuất gắn với bảo vệ môi trường
Những năm gần đây, để đáp ứng nhu cầu giấy và bột giấy cho sản xuất và tiêu dùng trong nước theo sự chỉ đạo của Chính phủ, dây chuyền sản xuất giấy Bãi Bằng (Tổng công ty Giấy Việt Nam) được đầu tư mở rộng nâng công suất.
Năm 2007, Tổng công ty Giấy Việt Nam phấn đấu đưa sản lượng giấy các loại lên 266.540 tấn, trong đó giấy Bãi Bằng là 110 nghìn tấn và 70 nghìn tấn bột giấy. Ðể chủ động nguồn bột giấy cho sản xuất, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu và ứng phó với tình hình giá vật tư nguyên liệu đầu vào biến động theo chiều hướng ngày càng tăng, làm cho chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tăng theo, vấn đề tăng sản lượng bột giấy có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả kinh doanh của Tổng công ty.
Quá trình sản xuất bột giấy kéo theo vấn đề ô nhiễm môi trường. Những chất hữu cơ như li-gnin, chất bán sợi và các hóa chất dùng để làm phân rã mảnh nguyên liệu trong nước thải là những tác nhân gây ô nhiễm nặng nếu không thu hồi được dịch đen. Ngoài ra, trong quá trình xeo bột giấy thành giấy, nhà máy còn thải ra những sợi nhỏ và các chất độn như bột đá không chìm trong nước, những chất này khi thải ra sẽ hình thành các "bãi sợi" hữu cơ, tạo quá trình lên men, tiêu hao ô-xy hòa tan trong nước, tác động đến sự sống của sinh vật, làm mất cân bằng sinh thái.
Nhận thức rõ hậu quả có thể xảy ra đối với môi trường trong nhà máy và đời sống sinh hoạt của nhân dân chung quanh, từ nhiều năm nay Nhà máy giấy Bãi Bằng luôn coi trọng việc đầu tư xử lý các loại chất thải, từng bước áp dụng nhiều biện pháp quản lý, xử lý chất thải để bảo vệ môi trường. Song, do những hạn chế về công nghệ, thiết bị và nguồn vốn đầu tư, việc xử lý chất thải còn có những hạn chế nhất định. Những năm trước đây hàng chục hộ dân sống gần khu vực sản xuất vẫn phải "chung sống" với tình trạng không khí và nguồn nước ô nhiễm, vẫn còn những lời kêu ca phàn nàn từ phía người dân mà chính quyền và nhà máy phải tìm biện pháp khắc phục.
Năm 2003, đánh dấu một giai đoạn mới trong xử lý ô nhiễm môi trường, Tổng công ty bắt tay thực hiện dự án mở rộng sản xuất, nâng công suất Nhà máy giấy Bãi Bằng lên 100 nghìn tấn giấy/năm. Ðây là quá trình đầu tư đồng bộ với công nghệ mới, trong đó có nhiều hạng mục lớn phục vụ xử lý chất thải giải quyết ô nhiễm một cách liên hoàn. Những công nghệ mới được đưa vào sử dụng đã xử lý, giảm thiểu ô nhiễm các loại chất thải ngay từ các phân xưởng trong quá trình sản xuất. Số chất thải ra ngoài được thu gom và xử lý tương đối triệt để, hàng loạt biện pháp được áp dụng để giảm thiểu ô nhiễm, trong đó xử lý nước thải được quan tâm đúng mức.
Với quy mô sản xuất như hiện nay, mỗi ngày nhà máy thải ra khoảng 18.500 m3 nước, qua nghiên cứu tính toán công nghệ xử lý và đầu tư đồng bộ, đến nay toàn bộ nước thải công nghiệp của dây chuyền sản xuất đã được thu gom và xử lý triệt để qua hệ thống xử lý tập trung. Nước thải công nghiệp từ các phân xưởng được thu gom, xử lý theo cả hai phương pháp hóa học và sinh học. Chất lượng nước thải sau khi xử lý đạt yêu cầu bảo vệ môi trường.
Kết quả kiểm tra thường xuyên của nhà máy và kết quả quan trắc của Bộ Tài nguyên và Môi trường từ tháng 4-2007 đều cho thấy, so với tiêu chuẩn môi trường Việt Nam 5945:2005 thì nước thải sau khi xử lý của nhà máy có 28/30 chỉ tiêu đạt mức A, chỉ còn hai chỉ tiêu là mầu và nhu cầu ô-xy sinh hóa (COD) đạt tiêu chuẩn mức B.
Hiện nay, xưởng xử lý nước thải vi sinh có thể xử lý 30.000 m3/ngày, toàn bộ nước sau khi xử lý đều đạt tiêu chuẩn môi trường quốc gia. Ðây là hệ thống xử lý nước thải hiện đại nhất của ngành giấy Việt Nam hiện nay, vì đây là công nghệ xử lý được nhập từ Thụy Ðiển.
Việc thu gom xử lý khí thải, thông qua đầu tư lắp đặt hệ thống chưng bốc mới và thu gom đã hạn chế mùi hôi từ quá trình chưng cất, đến nay mùi phát ra từ các lò thu hồi đã giảm đáng kể, hàm lượng H2S và các khí mang mùi đã giảm tới 90% so với trước. Theo đánh giá của Bộ Tài nguyên và Môi trường, các thông số môi trường trong khí thải của hai lò hơi động lực và lò hơi thu hồi đều đạt tiêu chuẩn môi trường TCVN 5939:2005. Sở Tài nguyên và Môi trường Phú Thọ đánh giá cao kết quả xử lý khí thải của nhà máy.
Ngoài ra, trong quá trình sản xuất bột giấy, khi đưa nguyên liệu vào sản xuất, hằng ngày nhà máy cũng thải ra nhiều loại chất thải rắn, mỗi ngày có khoảng 3,5 tấn vỏ cây, mùn cưa, 120 tấn xỉ than phải xử lý. Các loại chất thải rắn này được phân loại, xử lý theo phương pháp tận thu, vỏ cây, mùn cưa được sử dụng làm chất đốt, sản xuất phân vi sinh và xỉ than bán cho các đơn vị sản xuất vật liệu xây dựng để đóng gạch. Riêng lượng bùn vôi với khối lượng thải ra khoảng 90 tấn/ngày được xử lý theo phương pháp khô, đổ ra bãi chứa riêng.
Ông Ðỗ Xuân Trụ, Chủ tịch HÐQT Tổng công ty Giấy Việt Nam cho biết, con đường để phát triển sản xuất bền vững đòi hỏi phải làm tốt công tác bảo vệ môi trường. Từ sau năm 2003, mỗi năm Tổng công ty đã chi phí 14 tỷ đồng tiền điện và hóa chất, chưa kể tiền công cho công nhân, lao động để duy trì hoạt động cho xưởng xử lý nước thải. Trong đó, riêng chi phí cho điện, hóa chất, nhân công để duy trì việc kiểm soát môi trường là một tỷ đồng/năm.
Hằng ngày có một tổ bốn người thường xuyên làm công tác giám sát chặt chẽ các nguồn chất thải, tổ chức kiểm tra lấy mẫu nước thải một giờ một lần đưa về phòng thí nghiệm phân tích, đánh giá và chỉ đạo kịp thời việc xử lý. Ngoài ra, nhà máy còn thành lập mạng lưới giám sát môi trường, tổ chức các lớp đào tạo về công tác môi trường, nâng cao nhận thức của cán bộ, công nhân, triển khai áp dụng sản xuất sạch hơn đối với các nhà máy để giảm lượng thải từ nguồn. Những cố gắng trong công tác bảo vệ môi trường của Tổng công ty thời gian qua đã đem lại những hiệu quả thiết thực, được nhân dân, các cấp chính quyền cũng như các nhà quản lý môi trường ghi nhận.
Ðưa công nghệ thân thiện môi trường vào sản xuất
Những kết quả về cải thiện môi trường của Tổng công ty Giấy thời gian qua chỉ là thành công bước đầu trong quá trình cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng môi trường sản xuất. Tuy nhiên, với những dây chuyền thiết bị được đầu tư cách đây tới 25 năm so với công nghệ hiện nay thì vẫn còn quá nhiều hạn chế trong quá trình xử lý triệt để các nguồn chất thải.
Ðể khắc phục những khó khăn đó, trong dự án đầu tư mở rộng giai đoạn 2, xây dựng một nhà máy bột giấy công suất 250.000 tấn/năm, cùng với lựa chọn sử dụng những công nghệ tiên tiến hiện đại và thân thiện với môi trường, Tổng công ty tiếp tục nghiên cứu các biện pháp khắc phục những hạn chế ở dây chuyền cũ, hình thành một phương án xử lý môi trường đồng bộ trên cơ sở kết hợp giữa công nghệ cũ và công nghệ mới.
Một số giải pháp được tập trung triển khai từ nay đến năm 2010 là: Áp dụng công nghệ tẩy trắng ECF (công nghệ không có clo nguyên tố) nhằm giảm thiểu lượng chất hữu cơ thải ra môi trường; đầu tư lò vôi quay để đốt và sử dụng lại lượng bùn vôi thải cho cả dây chuyền cũ và mới, nhằm giảm tối đa lượng bùn vôi thải ra hằng ngày, tận thu để giảm mức sử dụng tài nguyên; tiếp tục cải tạo lò thu hồi cũ thành lò đốt đa năng, tái sử dụng toàn bộ lượng vỏ cây, mùn cưa, bùn vi sinh, qua đó giảm đến mức thấp nhất lượng chất thải rắn; đầu tư hệ thống thu gom và rửa khí mang mùi, khí độc, đưa về đốt trong lò hơi thu hồi kết hợp với đầu tư tháp hấp thụ để tách khí mang mùi hôi và khí độc trong nước ngưng phóng bột...
Dự án đầu tư mở rộng giai đoạn 2 xây dựng mới nhà máy bột giấy công suất 250 nghìn tấn/năm với công nghệ nấu bột tiên tiến, hiện đại và thân thiện môi trường hiện đang được triển khai khẩn trương. Tổng mức đầu tư cho dự án mới khoảng 5.992 tỷ đồng, trong đó, số tiền đầu tư cho bảo vệ môi trường là 228 tỷ đồng.
Sau khi thực hiện xong dự án (dự kiến vào năm 2010) thì toàn bộ vấn đề môi trường tồn tại hiện nay sẽ được giải quyết triệt để, giúp Tổng công ty tiếp tục phát triển sản xuất, tăng sản lượng giấy và bột giấy. Ðây cũng là điều kiện quyết định sự phát triển bền vững, góp phần nâng cao chất lượng và uy tín của thương hiệu giấy Bãi Bằng, từ đó giúp Tổng công ty Giấy Việt Nam trở thành đơn vị chủ lực của ngành giấy, giải quyết bền vững vấn đề môi trường, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế thế giới.
| * Ông Vũ Văn Thủy, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Thọ: Tổng công ty Giấy Việt Nam thời gian gần đây đã đầu tư nhiều vào vấn đề giải quyết ô nhiễm môi trường từ công nghệ sản xuất giấy. Các đợt kiểm tra gần đây của chúng tôi về mức độ ô nhiễm tác động đến các hộ dân sống chung quanh nhà máy cho thấy vấn đề xử lý khí thải khá tốt, giảm mùi hôi trong không khí, nguồn nước thải ra môi trường bảo đảm các chỉ tiêu quy định của TCVN. Tuy nhiên, hiện tại chất lượng nước thải bảo đảm các chỉ tiêu môi trường nhưng nước vẫn còn mầu nâu, đề nghị Tổng công ty tiếp tục nghiên cứu tìm công nghệ xử lý. Theo chúng tôi, hồ bùn vôi hiện nay chưa được quản lý tốt, nếu nhà máy chuyển về khu xử lý tập trung của tỉnh thì sẽ giảm bớt ô nhiễm ảnh hưởng tới đời sống và sinh hoạt đối với những hộ dân sống gần hồ. Tổng công ty cũng cần làm rõ tình trạng những hộ sản xuất, chăn nuôi gia súc đổ chất thải chưa qua xử lý vào hồ gây ô nhiễm. * Ông Dương Mạnh Hùng, Bí thư Ðảng ủy, Chủ tịch HÐND xã Phú Nham, huyện Phù Ninh (Phú Thọ): Khi chưa tách huyện, hai phần ba đất của Nhà máy Bãi Bằng nằm trên đất của xã Phú Nham, nhân dân trong xã trước đây sinh sống bằng nghề trồng sắn, nay chuyển sang trồng rừng nguyên liệu giấy. Quá trình phát triển vùng nguyên liệu, Tổng công ty liên kết hỗ trợ xã trồng 2,3 ha rừng, hỗ trợ giống bạch đàn cao sản, phân bón... Hiện nay, điểm ô nhiễm môi trường gây bức xúc trong nhân dân là hồ chứa bùn vôi. Nếu theo quy định chỉ đổ chất thải từ nhà máy thì không có vấn đề gì lớn, nhưng hiện nay cũng có một số đơn vị xả chất thải vào hồ gây ô nhiễm. Những hôm trời chuyển gió, mùi không khí rất khó chịu, gây ảnh hưởng đến sinh hoạt. Nhân dân và chính quyền xã Phú Nham kiến nghị Tổng công ty tiếp tục các biện pháp giảm ô nhiễm khu vực hồ. Các kết quả kiểm tra cho thấy không có độc hại trong nguồn nước thải nhưng nếu Tổng công ty Giấy đầu tư thiết bị tiên tiến xử lý được mầu nâu trong nước thải thì dân trong xã sẽ yên tâm hơn. * Ông Nguyễn Huy Ðiểm, Chủ tịch UBND thị trấn Phong Châu: Chúng tôi đánh giá cao việc đầu tư công nghệ vào xử lý ô nhiễm môi trường của Tổng công ty Giấy. Gần đây, vẫn còn một số hộ kiến nghị với chúng tôi về việc không yên tâm đối với nguồn nước sử dụng hằng ngày quanh khu vực hồ chứa bùn vôi của nhà máy. Vì vậy, chúng tôi kiến nghị với Tổng công ty xem xét và hỗ trợ một phần kinh phí, vật tư để những hộ dân này lắp đặt hệ thống nước sạch riêng. |