Tục cúng cỗ chay
Tục này gắn với người Anh hùng dân tộc Lý Bí và cuộc khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của nhà Nam Lương. Giai thoại kể rằng: Ðể bảo đảm bí mật, sẵn sàng cơ động và tạo được yếu tố bất ngờ trong trận đánh Châu Thanh Long Biên, tháng ba năm Nhâm Tuất (542), tại đây đã diễn ra mọt cuộc thi đặc biệt trong ba ngày: 7, 8 và 9 là làm các loại bánh có thể bảo quản được dài ngày để làm lương khô cho nghĩa quân.
Sau chiến thắng đó, để nhắc nhở con cháu và ghi nhớ sự kiện này, dân làng đã lấy ngày mồng 8 tháng ba âm lịch hằng năm làm ngày hội làng. Hiện ở đây còn lưu truyền bài vè:
Xưa nay phong tục quê ta
Chọn ngày mồng tám tháng ba hội làng
Bánh dày, bánh cuốn, chè lam ...
Tượng trưng truyền thống thi làm lương khô.
Hội làng Thượng Thanh, thuộc xã Thanh Cao (Thanh Oai, Hà Tây), nơi thờ ông Cai Nông - một tướng nam đóng giả gái trong cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40-43), được tổ chức từ ngày mồng 10 đến ngày 12 tháng hai âm lịch hằng năm, cũng có tục chỉ dâng cỗ chay, nhưng gắn với một ý nghĩa khác. Tục truyền, sau chiến thắng Tô Ðịnh, dân làng cho giết trâu bò để khao quân. Nào ngờ, đến khi vào tiệc, ông Cai ra lệnh cho quân lính không được đụng đũa. Trong khi mọi người còn đang ngơ ngác, chưa hiểu làm sao, thì được ông Cai ôn tồn giải thích: "trâu, bò vốn là bạn của nhà nông, là những con vật giúp con người làm ra lúa gạo, sao lại đem giết thịt làm ảnh hưởng đến sản xuất?".
Theo lời ông Cai, từ đó dân làng chỉ dám làm cỗ chay, rồi thành lệ dọn cỗ chay trong ngày lễ thành hoàng, bởi không ai dám trái ý ông Cai, sợ dọn cỗ mặn ông sẽ không về thụ lễ.
Hội làng Bình Ðà (Thanh Oai, Hà Tây), nơi thờ Lạc Long Quân và Lý Lang Công, được tổ chức từ ngày 5 đến ngày 6 tháng ba âm lịch hằng năm. Ngoài đám rước của dân làng, còn có đám rước của nhà chùa mà lễ vật là: 100 phẩm oản, 100 quả chuối, 100 miếng cau đậu và 100 ghế chéo. Con số 100 ở đây được giải thích là lễ phẩm dâng lên 100 người con trai của vị Quốc tổ Long Quân và đức Quốc Mẫu Âu Cơ.
Hội đền Giá (xã Ðông Cao, huyện Phổ Yên, TP Thái Nguyên), nơi thờ đức Phù Ðổng, được tổ chức vào ngày mồng 9 tháng tư âm lịch hằng năm (hội chính từ ngày mồng 4 đến ngày mồng 6 tháng Giêng). Khác với mọi nơi, cỗ chay ở đây không phải là bánh trái, hương hoa hoặc oản quả mà là một mâm... cơm nắm, muối vừng và... cà nén. Là người Việt Nam, hẳn không ai trong chúng ta không biết đến công lao đánh giặc Ân của người Anh hùng Phù Ðổng, và càng không thể không biết đến câu chuyện dân gian có liên quan đến những vật phẩm trong mâm cơm cúng đặc biệt kể trên.
Tục cúng cỗ sống
Trong lễ tế thần ngày mồng 6 tháng Giêng âm lịch hằng năm ở hội đền Măng Sơn (xã Sơn Ðồng, TX Sơn Tây, Hà Tây) có tục phải có thịt thú rừng sấy khô. Về sau, không có thịt thú rừng, người ta thay bằng ba tảng thịt lợn sống. Lễ phẩm gắn với sự tích đức Thánh Tản đi săn, diệt được thú, cùng dân làng ăn uống và đã nghỉ đêm tại đây.
Hội làng Vi, Trẹo (Vĩnh Phúc) được tổ chức vào thượng tuần tháng Giêng âm lịch hằng năm, trong lễ rước kiệu có lệ mang gà, vịt ra treo vào kiệu. Theo đó, tục này gắn với tích nàng Ngọc Hoa, vợ đức Thánh Tản, về Nghĩa Lĩnh quê ngoại vấn an vua Hùng. Số gà vịt treo vào kiệu là để làm lương ăn cho nàng khi nàng trên đường từ Nghĩa Lĩnh thăm cha trở về.
Hội làng Lai Tảo, thuộc xã Bột Xuyên (Mỹ Ðức, Hà Tây) được tổ chức vào ngày 12 tháng mười âm lịch hằng năm lại có tục tế thành hoàng bằng thịt sống và gạo xôi sống. Tục này gắn với sự tích Cao Quốc Minh, Cao Tuấn Công và Cao Chân Pháp, ba vị tướng giỏi của Hai Bà Trưng và cũng là thành hoàng của làng, trong một lần dẫn quân về Lai Tảo mừng thắng trận, dân làng tổ chức mổ lợn, đồ xôi để khao quân, song chưa kịp nấu nướng thì có lệnh cho ba tướng phải lên đường hành quân gấp. Do đó, dân làng phải cho người mang số thịt, gạo chưa kịp nấu đi theo...
Như vậy, qua tục cúng cỗ chay và cỗ sống trong một số lễ hội kể trên, có thể thấy vật dâng cúng trong lễ hội có sự liên quan mật thiết đến hành tung và sự tích của vị thần được nhờ. Chỉ tiếc rằng, trong những năm gần đây, việc tổ chức lễ hội ở một số địa phương có phần quá chú trọng về vật chất và phô trương hình thức, mà xa dần ý nghĩa gốc của việc thờ cúng. Thiết tưởng, trong lĩnh vực tâm linh, lễ vật dù hậu hay bạc, chay hoặc tạp, sống hoặc chín là tùy thuộc vào phong tục của mỗi nơi và căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi vùng miền; nhưng điều quan trọng là sự thành tâm.