Độc lâp, tự do là tư tưởng cách mạng vĩ đại của Hồ Chí Minh, là chìa khoá vạn năng, điểm hội tụ thắng lợi của chiến lược: "Đoàn kết, đoàn kết, Đại đoàn kết. Thành công, thành công, Đại thành công".
Nội dung, hình thức tổ chức tập hợp lực lượng trong chiến lược đại đoàn kết của Đảng, của Hồ Chí Minh được thực hiện phong phú qua các thời kỳ cách mạng của nhân dân Việt Nam. Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh soạn thảo được Hội nghị thành lập Đảng thông qua đã nêu cao khẩu hiệu "Việt Nam độc lập", "Việt Nam tự do", và chiến lược đoàn kết dân tộc rộng rãi, uyển chuyển. Cương lĩnh nêu rõ, trên cơ sở coi công nông là gốc cách mạng, Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, tập hợp hoặc lôi kéo phú nông, tư sản và tư bản bậc trung, trung tiểu địa chủ đi về phía giai cấp công nhân. Thực tiễn cao trào cách mạng 1930-1031 ở Nghệ-Tĩnh, ngoài lực lượng công nông đông đảo, chúng ta thấy phần lớn là trí thức và một số sĩ phu, một số trung tiểu địa chủ có xu hướng cách mạng rõ rệt. Sự thật lịch sử đó bước đầu minh chứng về tính chân xác quan điểm giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, đoàn kết toàn dân chống đế quốc và tay sai phản động được nêu ra trong Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng do Hồ Chí Minh soạn thảo.
Sự hình thành Mặt trận dân tộc thống nhất trong cách mạng Việt Nam do Đảng tổ chức và lãnh đạo đã diễn ra qua một quá trình vận động từ năm 1930 và được hoàn thiện về đường lối chính trị và tổ chức với sự ra đời của Mặt trận Việt Minh năm 1941.
Sự thành lập và hoạt động của Việt Minh đã trở thành trung tâm tập hợp, đoàn kết các giai cấp, đảng phái chính trị và cá nhân yêu nước trong toàn quốc đứng lên đánh Pháp, đuổi Nhật. Giương cao ngọn cờ dân tộc, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước và đoàn kết thống nhất dân tộc, dựa vững vào khối liên minh công nông và trí thức, đoàn kết chân thành với mọi lực lượng yêu nước và tiến bộ của dân tộc trong Mặt trận thống nhất rộng rãi, Mặt trận Việt Minh là một thành công và là một bài học sáng tạo của Hồ Chí Minh, của Đảng về công tác Mặt trận trong cách mạng Tháng Tám, về chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc trong cách mạng Việt Nam. Việt Minh đã trở thành một nhân tố cơ bản, quyết định thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945.
Sự ra đời và hoạt động của Việt Minh gắn liền với tư tưởng, đường lối chính trị, đường lối tổ chức và sự hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là người sáng lập, lãnh đạo Việt Minh, sáng lập Mặt trận dân tộc thống nhất. Người là hiện thân của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Trong các thời kỳ kháng chiến, đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng và Hồ Chí Minh tiếp tục giương cao hơn bao giờ hết ngọn cờ độc lập, tự do và chiến lược đại đoàn kết để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Để thực hịên chủ trương đó, Đại hội Mặt trận Liên Việt toàn quốc tại Hà Nội từ ngày 5-9 đến 10-9-1955 đã quyết định đổi tên thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tiếp tục sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân của Mặt trận Liên Việt. Do nhiệm vụ cách mạng ở hai miền Bắc, Nam khác nhau cho nên nhiệm vụ, tính chất, thành phần Mặt trận ở mỗi miền cũng khác nhau. Vì vậy, ở miền Nam phải có Mặt trận riêng. Năm 1960, trong bối cảnh thắng lợi của phong trào "đồng khởi", Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã được thành lập (20-12-1960). Mặt trận chủ trương đoàn kết mọi người Việt Nam yêu nước, không phân biệt giai tầng, địa vị xã hội, sắc tộc, tín ngưỡng ở miền Nam đấu tranh đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai thực hiện độc lập, dân chủ, cải thiện dân sinh, hoà bình trung lập ở miền Nam, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc, Uỷ ban Trung ương Mặt trận gồm nhiều nhân vật tiêu biểu có khả năng tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới ngọn cờ của Mặt trận.
Cách mạng và kháng chiến càng mạnh, Mặt trận càng phát triển rộng rãi. Ngày càng có nhiều tổ chức chính trị, xã hội ra đời và tham gia Mặt trận. Đầu năm 1968, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hoà bình miền Nam Việt Nam đã ra đời. Đây là một biểu hiện của sự thức tỉnh tinh thần dân tộc trong tầng lớp trung lưu và thượng lưu ở thành thị. Tiếp đến, tháng 6-1969, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam được thành lập và được hàng chục nước trên thế giới công nhận, đặt quan hệ ngoại giao. Đây là một thắng lợi mới của chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc chống Mỹ, cứu nước.
Thế và lực của cách mạng ngày càng mạnh mẽ, thế và lực của Mỹ-nguỵ ngày càng suy yếu. Sau hơn 20 năm kháng chiến đầy gian khổ, lần lượt đánh bại các âm mưu thủ đoạn thâm độc của kẻ thù, bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh vĩ đại, quân và dân ta đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc đưa non sông về một mối.
Trong một quốc gia dân tộc bao giờ cũng có các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo khác nhau, có những lợi ích riêng khác nhau, song bao giờ cũng có lợi ích chung và cao cả của toàn dân tộc. Dân tộc Việt Nam cũng vậy. Dù có khác nhau về giai cấp xã hội, dân tộc, tôn giáo, song người Việt Nam đều là con Hồng cháu Lạc, có lịch sử hình thành quốc gia lâu đời, có tình nghĩa đồng bào sâu nặng, có chủ nghĩa dân tộc truỳên thống vững chắc, có lợi ích chung là độc lập, tự do. Trong tất cả mọi người Việt Nam, dù sống ở trong nước hay nước ngoài, kể cả những người được sinh ra và lớn lên ở nước ngoài, song trong tâm thức của họ luôn luôn tiềm ẩn tinh thần Việt Nam. Vì vậy, khơi nguồn và phát triển đỉnh cao sức mạnh dân tộc và trí tuệ con người Việt Nam, thực thi chiến lược đại đoàn kết một cách sáng tạo, quy tụ lực lượng toàn dân bằng mọi hình thức động viên và tổ chức phong phú, thích hợp với mọi hoàn cảnh cụ thể của dân tộc và quốc tế, với mọi đối tượng tập thể và cá nhân trên cơ sở lấy liên minh công nông và trí thức cách mạng làm nền tảng do Đảng Cộng sản lãnh đạo, là một thành công, sáng tạo hiếm có.
Thắng lợi của tư tưởng độc lập, tự do và chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc mãi mãi ghi đậm nét vàng chói lọi trong lịch sử tiến hoá của dân tộc Việt Nam và bài học về đại đoàn kết toàn dân tộc có giá trị vĩnh hằng đang soi sáng hành trình và chấp cánh cho chúng ta bay xa trên con đường đổi mới vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đại đoàn kết dân tộc là đường lối cơ bản của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Đại đoàn kết chủ yếu phải lấy mục tiêu chung của dân tộc làm điểm tương đồng, đồng thời chấp nhận những điểm khác nhau, không trái với lợi ích chung của dân tộc, cùng nhau xoá bỏ định kiến, mặc cảm, hận thù, hướng về tương lai, xây dựng tinh thần đoàn kết, cởi mở, tin cậy lẫn nhau, "tất cả vì độc lập của Tổ quốc, tự do và hạnh phúc của nhân dân".