Từ Lý Sơn đến Hoàng Sa

Kể từ thời đội binh phu đầu tiên vâng mệnh triều đình nhà Nguyễn vượt biển khơi chinh phục Hoàng Sa, đánh bắt sản vật và cắm mốc chủ quyền nước Việt cho đến hôm nay, lớp lớp thế hệ cháu con của họ ở Lý Sơn chưa khi nào ngừng nghỉ. Mặc cho sóng dập gió vùi, Hoàng Sa luôn là đích đến, cũng là nơi trở về. Bởi đó là hồn thiêng của dân tộc, là cốt nhục của đất Mẹ Việt Nam và là bát cơm manh áo hằng ngày của người Lý Sơn.

Tàu đánh cá của ngư dân huyện Lý Sơn (Quảng Ngãi) thẳng tiến ra vùng biển Hoàng Sa.
Tàu đánh cá của ngư dân huyện Lý Sơn (Quảng Ngãi) thẳng tiến ra vùng biển Hoàng Sa.

Nơi giữ linh hồn người đi chinh phục biển

Con tàu cao tốc An Hải từ Sa Kỳ cập cầu cảng Lý Sơn một trưa tháng 5 nắng rát. Từng nghe nhiều câu chuyện về hòn đảo tiền tiêu của Tổ quốc giữa bốn bề sóng nước, chúng tôi cũng không khỏi bồi hồi khi chạm chân lên cầu cảng. Trên hòn đảo chưa đầy 10 cây số vuông này, đâu đâu cũng nghe những câu chuyện về Hoàng Sa. Trong dày đặc đình chùa, đền miếu tồn tại hàng trăm năm, có một ngôi chùa độc đáo: Âm linh tự - nơi thờ những binh phu, những người lính trận, những ngư phủ của nhiều thế hệ ra Hoàng Sa rồi không trở về. Chùa khi nào cũng nghi ngút khói hương. Khi chúng tôi đến, người dân Lý Sơn vừa tổ chức xong Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa. Nghi lễ có từ hàng trăm năm trước này rất kỳ lạ: Tế sống những người đi biển. Kỳ lạ là những người Lý Sơn đều biết, ra Hoàng Sa là không hẹn ngày về, và cái cách mà những người thân tổ chức tế sống cho người ra đi, bao đời nay vẫn vậy, đủ thấy họ đã an nhiên chấp nhận cái chết như một phần tất yếu của cuộc sống.

Lý Sơn bây giờ hối hả lắm. Những đội thuyền thắm rực cờ Tổ quốc ra vào tấp nập âu tàu. Những cánh đồng tỏi xanh mát mắt nơi triền núi phơi mình dưới nắng và gió biển. Những tốp, những đoàn du khách ngỡ ngàng trước những chùa, hang kỳ thú trong lòng núi, những công trình kiến trúc tinh xảo thâm trầm từ hàng trăm năm hay những hốc đá, bãi biển trong veo và cát trắng đẹp đến mê hồn. Nhưng nếu đến thăm những nhà thờ dòng họ, những ngôi mộ gió, hay Nhà trưng bày về Hoàng Sa, bạn sẽ cảm nhận thấy, người Lý Sơn can trường và bình thản đến thế nào trước trọng trách của cư dân hòn đảo tiền đồn.

Nhà thờ cụ Phạm Quang Ảnh, Cai đội binh phu của Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải dưới thời nhà Nguyễn, bé nhỏ và đơn sơ hơn cả mọi hình dung của chúng tôi. Hậu duệ của cụ, ông Phạm Quang Tỉnh kể rằng, từ nhỏ ông đã thấy trên bàn thờ tổ tiên có bài vị của người "liệt sĩ" vâng mệnh triều đình đi chinh phục Hoàng Sa. Cùng với bài vị này, dòng họ Phạm còn lưu giữ tờ lệnh triều đình cử cụ Phạm Quang Ảnh dẫn đoàn tùy tùng đóng ghe câu giong buồm ra Hoàng Sa đánh bắt hải sản, đo đạc hải trình chinh phục biển cả. Gia phả họ Phạm ghi, đội binh phu do cụ Phạm Quang Ảnh làm Cai đội cứ tháng 2 hằng năm thì chuẩn bị ghe câu, lương thực, giong buồm vượt biển ra Hoàng Sa, tháng 8 thì trở về cửa biển Thuận An và thẳng tiến triều đình, giao nộp sản vật và báo cáo hải trình. Trong một chuyến ra khơi như thế, vị Cai đội mới tuổi ngoài đôi mươi cùng với 24 hùng binh của Hải đội Hoàng Sa đã không trở về.

Ông Phạm Quang Tỉnh kể rằng, ông nghe những người già trong dòng họ truyền lại câu chuyện, một ngày sau rất nhiều tháng cụ Phạm Quang Ảnh giong ghe căng buồm ra biển, bặt tin tức, gia đình nhận được chiếu chỉ của Vua Gia Long, bày tỏ xót thương và ghi nhận công lao của người con dòng họ đã vì nước mà gửi thân xác ngoài khơi. Chiếu chỉ lệnh cho gia tộc, với sự chủ trì của vị pháp sư do triều đình cử tới, lập mộ chiêu hồn cho Cai đội và đoàn tùy tùng.

Đó là những ngôi mộ gió đầu tiên trên hòn đảo này. Trong vườn nhà ông Phạm Quang Tỉnh, chúng tôi đã ngồi rất lâu trước những nấm mồ đắp từ hai trăm năm trước. Trong những nấm mồ này, chỉ có cành cây dâu, đất sét và lòng đỏ trứng gà mà vị pháp sư triều đình xưa đã lấy làm nhân dạng cho những người con quả cảm đã gửi thịt xương ngoài biển cả. Cành cây dâu làm xương cốt, đất sét lấy nơi núi Giếng Tiền, miệng núi lửa của triệu năm về trước nặn thành hình hài, lòng đỏ trứng gà tượng trưng cho lục phủ ngũ tạng. Hôm nay bên bờ rào mỗi ngôi nhà ở Lý Sơn, những cây dâu vẫn mướt xanh cùng nắng gió...

Tục đắp mộ gió được người Lý Sơn tiếp tục từ đó. Từ sau Cai đội Phạm Quang Ảnh, có thêm mộ gió của Thủy quân Chánh đội trưởng Suất đội Phạm Hữu Nhật (1854) mà chuyến đi của cụ vào năm 1836 được ghi vào lịch sử cắm mốc minh định chủ quyền của nhà nước Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa. Hàng trăm ngôi mộ gió ở Lý Sơn, đời này qua đời khác, vẫn tiếp tục mọc lên. Bởi hải trình chinh phục các quần đảo ngoài khơi luôn đầy bất trắc. Người Lý Sơn vẫn truyền nhau những câu ca: "Hoàng Sa trời bể mênh mông/Người đi thì có mà không thấy về/Hoàng Sa mây nước bốn bề/Tháng hai khao lề thế lính Hoàng Sa...".

Chẳng thế mà người lính Hoàng Sa, trong những nhu yếu phẩm mang theo trên chiếc ghe bầu ra biển, đã chuẩn bị cho mình đầy đủ bộ "hậu sự" gồm một đôi chiếu, bảy cái nẹp tre, bảy sợi dây mây, một thẻ bài khắc tên họ, quê quán, phiên hiệu. Nếu không may bỏ mình, người lính Hoàng Sa sẽ được đồng đội bó chặt thi hài thả xuống biển, hy vọng sóng nước đưa thân thể trở về đất mẹ và nhờ chiếc thẻ bài mà nhận ra tên tuổi, quê hương bản quán. Tại Nhà trưng bày về hải đội Hoàng Sa, những du khách lần đầu đến Lý Sơn không khỏi bùi ngùi khi tận mắt nhìn thấy nhóm hiện vật đặc biệt này. Ở đây, những thẻ bài khắc ghi tên tuổi những người con Lý Sơn đã vâng mệnh triều đình mà ra khơi hàng trăm năm trước được xếp thành hàng. Nhìn những hàng thẻ bài xếp cạnh nhau chỉnh tề thẳng lối, như thấy linh hồn những ngư phủ hùng binh xưa còn đâu đó, hiện về trong những chiếc thuyền ghe vẫn vượt sóng trùng khơi của hôm nay.

"Dân mình can trường lắm"

Người Lý Sơn bây giờ ra Hoàng Sa không mất nhiều thời gian như tổ tiên họ thuở hai ba trăm năm trước. Những chiếc ghe bầu hoặc những chiếc thuyền chèo tay đơn sơ giờ đã được thay bằng tàu đánh bắt xa bờ công suất tới hàng trăm, hàng nghìn mã lực được trang bị đủ thiết bị hiện đại như Icom, máy định vị, máy kéo lưới, chỉ chạy vài ngày là đến quần đảo Hoàng Sa. Người Lý Sơn biết rõ từng dặm biển, thông thuộc từng nguồn lạch ở ngoài khơi. Tuy nhiên, những tổn thương mà ngư dân Lý Sơn phải chịu hằng ngày bây giờ lại không phải là biển cả thiên nhiên hung dữ, mà chính là mối nguy mà người Lý Sơn gọi là "nhân họa".

Nhưng, "dân mình can trường lắm" - đó là câu mà ông Lê Khuân, Chủ tịch Nghiệp đoàn nghề cá An Vĩnh nói với chúng tôi khi kể chuyện ngư dân Lý Sơn ra khơi bị rượt đuổi, uy hiếp, bắt giữ... Không phải đợi đến khi nghe ông Khuân nói, hầu như bất cứ ngư dân nào mà chúng tôi gặp ở Lý Sơn đều cho chúng tôi tận mắt nhìn thấy, họ bình thản và can trường như thế nào. "Bởi Hoàng Sa là của mình mà, đời ông đời cha mình đổ máu xương ở đó, sao mình bỏ đi được".

Hầu như gia đình nào ở Lý Sơn cũng có người đi biển và đánh bắt hải sản ở ngư trường Hoàng Sa, Trường Sa. Vào những ngày trời yên biển lặng, thật khó để gặp những người đàn ông ở nhà. May mắn, ngày cuối cùng ở đảo, chúng tôi gặp anh Võ Minh Vương, chủ chiếc tàu lớn vừa mới từ ngư trường Hoàng Sa trở về. Ở Lý Sơn, anh Vương là ngư dân giữ "kỷ lục" với bảy lần bị tàu Trung Quốc bắt giữ khi đang đánh cá gần Hoàng Sa, trong đó có một lần bị giam giữ tới ba tháng trời.

Ngư dân Võ Minh Vương 18 năm kiên cường bám biển .

Mười tám năm anh Vương đi biển, chị Lê Thị Hiền vợ anh đã quen dần với việc nguy hiểm có thể xảy đến với chồng bất cứ lúc nào. Những khi không thấy anh liên lạc về, chị đều đoán biết chồng mình đang gặp nạn, nhưng chỉ biết chờ đợi. Chị đến Âm linh tự, thắp hương cầu khấn các vị linh thần và các vị tiền nhân hiển linh phù hộ cho chồng được bình an. Chị biết, dù chồng không trở về thì chị cũng phải cứng cỏi để nuôi con khôn lớn. Những người phụ nữ ở Lý Sơn đều như vậy. Người ở ngoài sóng gió thì can trường, nhưng người ở nhà cũng vững vàng kiên gan không kém.

Ngồi bên âu tàu buổi chiều muộn nhìn những chiếc tàu bình thản đi lại trên biển, ông Lê Khuân, Chủ tịch nghiệp đoàn nghề cá An Vĩnh luôn cười rất sảng khoái. Ông Khuân nói rằng, chuyện tàu của ngư dân mình đi đánh bắt ở vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa bị rượt đuổi và bắt giữ như chuyện "cơm bữa". Nhưng đâu có vì thế mà họ sợ. Chỉ xót vì ngư dân phần lớn còn nghèo, đầu tư đóng một cái tàu 200 đến 300 mã lực phải mất đến hàng tỷ đồng. Họ đều phải hùn nhau góp vốn, vay ngân hàng, hoặc vay "đầu nậu". "Chuyến đi suôn sẻ khai thác được nhiều hải sản thì còn có đồng ra đồng vào. Nếu gặp bất trắc thì về không là may rồi. Tàu thuyền bị phá hỏng, ngư cụ bị cướp thì coi như trắng tay làm lại từ đầu. Chứ mà không gặp những cảnh như vậy thì Lý Sơn tui giàu từ lâu rồi các cô ạ" - ông Khuân nói.

Buổi sáng ấy tạm biệt Lý Sơn, chúng tôi tình cờ gặp một đoàn thủy thủ vừa hạ tàu sau chuyến đi Hoàng Sa dài ngày. Những gương mặt sạm đen vì nắng gió, nhưng ai cũng cười tươi rắn rỏi. Những hậu duệ của cụ Phạm Quang Ảnh, Phạm Hữu Nhật vẫn tiếp tục ra khơi, bất di bất dịch vì đó là "biển của mình, mình phải ra để còn giữ cho con cháu mình sau này chứ"...

Có thể bạn quan tâm