Văn hóa và phát triển

Trên những cánh rừng Bản Chắt

Kiểm tra sự phát triển của cây giống
tại vườn ươm của nông lâm trương B61.
Kiểm tra sự phát triển của cây giống tại vườn ươm của nông lâm trương B61.

ND- Mặt trời vừa nhô lên giữa những quả đồi, cả khu vực Bản Chắt (Ðình Lập, Lạng Sơn) xanh ngát một mầu, lung linh dưới nắng vàng rực rỡ. Ðó cũng là lúc cán bộ, chiến sĩ ở Nông - Lâm trường 461 (Ðoàn kinh tế - quốc phòng B38) bắt đầu một ngày làm việc mới...

Vào những ngày này, mấy chục cây số quốc lộ 31 từ thị trấn Ðình Lập (Lạng Sơn) lên Bản Chắt có cái gì đó na ná đường Trường Sơn năm xưa. Ðường quanh co, lên dốc xuống đèo, có những đoạn dài nhan nhản các loại "ổ", từ "ổ gà", "ổ trâu" đến "ổ voi". Các công trình quốc kế, dân sinh xây dựng trong vùng đang cần vật liệu, hàng đoàn xe tải cỡ vài chục tấn chạy rầm rập suốt ngày đêm. Dự án mở rộng, nâng cấp con đường đã hoàn thành, ít ngày nữa sẽ khởi công. Còn trong khi chờ triển khai dự án, chỉ những chiếc ô-tô hai "cầu" mới dám vượt đường. Trên đường đi, thi thoảng thấy trên vách gỗ đầu hồi của một số ngôi nhà hay gốc cây ven đường, chỗ ngang tầm với, treo mấy chiếc túi ni-lông đựng thịt lợn. Tò mò hỏi, thì biết: Ở vùng này chợ rất xa, nên một phần nhu cầu thực phẩm của bà con được đáp ứng qua các anh "tiếp phẩm" bằng xe máy. Nhà nào muốn mua bao nhiêu thịt thì gọi điện thoại đặt trước, và sáng hôm sau, anh "tiếp phẩm" cắt chặt đủ cân đủ lạng, cho vào túi ni-lông, rồi đi xe đến treo ở nơi thuận tiện theo từng địa chỉ. Người mua đến lấy lúc nào thì lấy, tiền nong thanh toán sau. Treo như thế nhưng chưa bao giờ bị mất, cũng chưa có chuyện nhầm lẫn của nhau. Mọi người hóm hỉnh gọi đó là... "công ty thực phẩm cấp 5"!      

Ðến ngã ba Bản Chắt thì mọi sự như khác hẳn. Ðường bằng phẳng, không khí trong lành, nhìn bốn phía, đâu đâu cũng chỉ thấy rừng, thấp thoáng những ngôi nhà dưới tán lá xanh. Trụ sở Nông - Lâm trường B61 ở cạnh ngã ba, trước mặt có cái quán nhỏ của Mông Thị Slăn. Học xong trung cấp thú y, cô gái người Nùng quê ở Bình Gia xung phong vào đội Trí thức trẻ tình nguyện đến Ðình Lập. Cô gặp rồi yêu anh bộ đội Trần Ðức Nghĩa, sau hai năm làm công tác tình nguyện, họ kết hôn và định cư ở nơi giáp biên. Chắt chiu, vay mượn, rồi hai vợ chồng cũng có cái quán tạp hóa, hằng ngày ngoài giờ làm việc, bán từ cuốn vở, cái bút, chai nước ngọt đến thùng cá thu ướp lạnh, con nào con nấy vài ba cân. Cứ như hàng chục năm trước, thì khó có thể hình dung ở nơi xa xôi này cuộc sống sẽ thay đổi như thế nào. Còn bây giờ, bên cái quán nhỏ của Mông Thị Slăn, người và xe đi lại tấp nập, các chàng trai, cô gái người Tày, người Dao dựng xe máy tạt vào mua ít đồ lặt vặt, hay dừng xe í ới gọi điện thoại di động rồi phóng đi. Ðang vào mùa thu hoạch nhựa thông, thương lái kéo về, mọi người như hối hả hơn, và những "anh Bộ đội Cụ Hồ" giúp dân làm kinh tế như cũng vất vả hơn.

Gọi là Nông - Lâm trường, nhưng từ Thượng tá Giám đốc Nguyễn Tiến Thu, Thượng tá Chính trị viên Nguyễn Mạnh Kha đến các chiến sĩ nghĩa vụ tất cả chỉ có mấy chục người, trong đó chủ yếu là làm việc tại các đội ở thôn bản. Mỗi đội hai người, tự "cơm niêu nước lọ", lúc nào cần thì gọi điện thoại tới "công ty thực phẩm cấp 5", đến trưa lại vượt rừng ra lấy túi thịt treo trên cành cây. Ðội ở gần còn đỡ, đội ở Bắc Xa cách Nông - Lâm trường bộ đến 40 cây số, thì mỗi lần họp hành là một lần vất vả, vì đường rừng còn rất xấu. Các anh kể ngày trước, muốn gọi điện về cơ quan phải hẹn, đến giờ ra điểm bưu điện - văn hóa liên lạc. Giờ thì khá hơn nhiều, sóng điện thoại di động đã phủ khắp. Các anh sống với dân, tuyên truyền, động viên bà con trồng rừng và chăn nuôi, phát triển kinh tế gia đình, xây dựng bản làng. Các anh lo từ khâu cây giống, phổ biến kỹ thuật trồng đến cách thức chăm nom. Cùng Thiếu tá Giáp Văn Tự - Ðội phó Ðội 6, tôi vào bản Nà Lầm. Nà Lầm là bản mới lập để dãn dân, Nông - Lâm trường B61 triển khai dự án giúp bà con trồng rừng, tìm nơi thuận tiện để lập bản, đặt đường dây tải điện, tìm nguồn nước sạch dẫn về. Nhà của các gia đình trong bản xây dựng theo quy hoạch, khá đẹp mắt. Nhà nào cũng có tủ tường sáng choang, máy thu hình màn hình phẳng, đầu VCD, DVD, loa thùng để hát ka-ra-ô-kê, rồi quạt và nồi cơm điện... Nếu không gắn bó, không đồng cam cộng khổ với dân, hẳn là Thiếu tá Giáp Văn Tự khó lòng được bà con trong bản, từ người già tới trẻ em quý trọng đến thế. Người lớn chào hỏi, trẻ em líu ríu chạy theo gọi tên. Anh nhớ vanh vách từng nhà, có hoàn cảnh ra sao, ruộng nương thế nào. Anh bảo phải hiểu và chia sẻ với bà con mới giúp bà con được.

Có đến vùng sơn cước này mới thấy, để giúp đồng bào các dân tộc thiểu số có thể phát triển cuộc sống, Nhà nước đã đầu tư không biết bao nhiêu là tiền của, còn công sức của bộ đội bỏ ra thì khó có thể kể hết. Tàng Văn Pha là người Nùng, gia đình anh có bảy ha rừng thông, trong đó năm ha trồng theo dự án của Nông - Lâm trường B61, còn hai ha gia đình tự trồng. Nhà Tàng Văn Sang cũng có năm ha của dự án và hai ha gia đình tự trồng, vẻ hồ hởi, anh bảo:

- Mấy năm trước thấy bộ đội đến động viên trồng rừng, bà con thắc mắc không biết là trồng rừng cho bộ đội hay cho mình. Sau biết là trồng cho mình, bà con mừng lắm, từ nay đã có cái để xóa đói, giảm nghèo.

Theo dự án thì Nông - Lâm trường B61 thay mặt Nhà nước giao rừng cho bà con trồng thông, mỗi ha trồng 1.666 cây thông non. Nhận cây giống về trồng, ba năm đầu, bà con đều được thanh toán tiền công chăm sóc rừng. Ðến hết năm thứ ba thì huyện tiến hành làm sổ đỏ, chính thức giao phần rừng gia đình nào đã trồng và chăm nom cho gia đình ấy. Từ đó, bà con tự quản lý lấy phần rừng của gia đình mình, khi thông đến "tuổi" lấy nhựa, bà con khai thác và bán, Nhà nước không thu bất cứ khoản tiền nào. Khi thông có thể khai thác gỗ, gia đình cũng tự khai thác và bán. Ðó là lý do làm cho anh Tàng Văn Pha cùng các gia đình khác yên tâm trồng và bảo vệ rừng. Vì họ biết, rừng đó là của nhà mình, thoát nghèo hay không cũng từ đó mà ra. Cho đến nay, ở Bản Chắt và một số thôn bản chung quanh đã có 264 hộ được cấp sổ đỏ, cũng có nghĩa là đã có 264 hộ đã được Nhà nước gây dựng giúp vốn liếng kinh tế, từ nay chỉ còn phải chăm lo làm ăn. Ở nơi có cây thông trồng lâu hơn, một số gia đình đã khai thác và bán gỗ để xây nhà hai ba tầng, rồi mua sắm vật dụng hiện đại, dành tiền cho con cái theo học các trường ở dưới xuôi. Như thế là trồng rừng đã mang hai ý nghĩa thiết thực, vừa phòng hộ đầu nguồn, vừa giúp phát triển kinh tế cho nhân dân.

Ðến Bản Chắt lần này, tình cờ tôi lại gặp hai anh bộ đội biên phòng lấy vợ rồi định cư tại đây. Ðàm Văn Minh quê ở Hữu Lũng, hết nghĩa vụ anh kết hôn với Hoàng Thị Duyên quê Bản Chắt. Gia đình Minh giờ sinh sống ở bản mới Nà Lầm, nhà ngay đầu dãy, gọn gàng và phong quang. Lúc rỗi việc, vợ chồng nhà này làm thêm nghề nấu cao ngựa. Mỗi nồi cao nấu trong 10 ngày, trừ vốn liếng lãi khoảng hai triệu đồng, coi như tiền công. Cao ngựa của nhà Minh - Duyên giá vừa phải, nấu không kịp bán. Lúc rót nước mời tôi, Minh có chiều phấn khởi, vì cậu con trai lớn học trường dân tộc nội trú của huyện mới về nghỉ hè, trình bố mẹ tấm giấy khen học sinh giỏi. Còn cô giáo Hoàng Thị Hải thì có con gái làm ở trường PTCS Bắc Xa, con rể là Nguyễn Văn Hiên quê ở Hà Nam, hiện công tác ở đồn biên phòng. Ba mươi năm trước, tôi đã đến nơi đây, đã tận mắt chứng kiến nỗi gian nan, vất vả của các anh chị giáo viên ở vùng sâu vùng xa, vậy mà vẫn ngạc nhiên khi nghe cô giáo Hoàng Thị Hải kể về những ngày lưng địu con, vai gánh gạo từ huyện về trường, tài sản của mẹ con là cái hòm gỗ và chiếc túi đựng đồ. Mấy chục năm dạy học, cô giáo Hải có mặt ở hầu hết các trường trong vùng, từ Bính Xá, Còn Phiêng, Pò Háng đến Nà Lừa, Tiên Phi, Bản Mọi... Nay thì nỗi vất vả đã qua, ở tuổi ngoài năm mươi, cô giáo Hải đã có ngôi nhà hai tầng khang trang bên đường Bản Chắt, vốn liếng để trên rừng là hơn 10 ha cây thông. Nghỉ hè, con gái con rể đưa cháu về, nhà cửa ríu rít tiếng trẻ, nụ cười của cô giáo như có cả niềm hạnh phúc mà trước đây cô không thể hình dung. Trò chuyện với Nguyễn Văn Hiên, tôi hiểu, với những người thanh niên như anh, đất nước này đâu cũng là quê hương, sự xa xôi cách trở không còn là lý do có thể ngăn cản họ trên con đường tạo lập cuộc sống.

Một ngày mới ở Nông - Lâm trường bộ B61 bắt đầu bằng tiếng kẻng như ở các doanh trại quân đội, nhưng công việc sau đó không phải là thao trường mà là vườn ươm, là đi kiểm tra việc bảo vệ rừng, về các thôn bản tiếp tục triển khai dự án... Công việc nhiều mà người thì ít, hầu như quanh năm mỗi người một ngả. Hôm tôi đến, cán bộ chỉ huy Ðoàn B38 đều đi công tác ở cơ sở, có việc gấp, Ðại tá Chính ủy đang nghỉ phép với gia đình ở Hải Dương, chưa hết phép, anh vẫn phải tạm biệt vợ con, trở về đơn vị làm việc. Vào thời bình, nhưng đa số cán bộ, chiến sĩ Ðoàn kinh tế - quốc phòng B38 vẫn sống xa nhà, có người đến nửa năm chưa về thăm vợ con. Là "Bộ đội Cụ Hồ", họ sống và làm việc vì cuộc sống của đồng bào các dân tộc ở các bản làng heo hút suốt từ Cao Lâu đến Bắc Xa. Ngày đầu chuyển nhiệm vụ, các anh còn bỡ ngỡ lắm, phải đi tập huấn ba tháng để đáp ứng yêu cầu của "nghề mới". Sau hơn chục năm, các anh tự học tập và rèn luyện trong thực tế để trở thành cán bộ kỹ thuật giỏi, rồi lại được bổ sung cán bộ có trình độ kỹ sư, để cùng trở thành những người con của bản làng. Mà các anh không chỉ lo giúp về kinh tế, các anh lo cả phần văn hóa để sự phát triển bền vững có cơ sở hình thành. Ðến với các thôn bản nằm rải rác trên diện tích rộng 91.375 ha mà chỉ có 29.319 người dân sinh sống, lại là nơi có tỷ lệ hộ nghèo khá cao, bộ đội Ðoàn B38 vừa mở đường, vừa làm trường học, vừa góp phần nâng cấp, đào tạo đội ngũ cán bộ y tế cơ sở. Ðến nay, Ðoàn đã xây dựng hai trạm y tế điều trị không mất tiền ở vùng sâu, vùng xa, xây dựng và đưa vào sử dụng hai trạm thu - phát truyền hình để phục vụ bà con "vùng lõm". Và nhiều năm nay, một nền nếp sinh hoạt văn hóa giữa bộ đội với nhân dân đã hình thành là tổ chức hội diễn văn nghệ quần chúng: cấp Ðoàn hai năm tổ chức một lần, cấp Nông - Lâm trường tổ chức mỗi năm một lần. Ðó là dịp để bộ đội cùng nhân dân cất cao tiếng hát ca ngợi cuộc sống mới tươi đẹp, là dịp để những làn điệu sli, lượn và cây đàn tính nhịp nhàng, thánh thót nét bản sắc riêng của nghệ thuật các dân tộc miền Ðông Bắc.

Từ Lộc Bình qua Na Dương đến Ðình Lập, đi đến đâu cũng chỉ thấy rừng ngút ngàn, rừng phủ kín núi đồi, rừng xanh ngát một mầu, đó là sự sống. Ðể có những cánh rừng mênh mông như thế, những anh "Bộ đội Cụ Hồ" ở Ðoàn kinh tế - quốc phòng B38 đã phải bỏ ra cả chục năm trời cùng nghĩ, cùng lo toan để vận động, thuyết phục nhân dân cùng làm. Trong khi có những kẻ đang tâm phá rừng, thì ở đất này lại đang có những người lính phải chịu cảnh xa nhà, phải chịu nhiều thiệt thòi để đất nước có thêm nhiều cánh rừng, để giúp những người dân vùng sâu, vùng xa có cuộc sống ấm no. Trên những chiếc xe máy phủ đầy bụi đất, hằng ngày những người lính vẫn lên đường. Theo bước chân họ, những cánh rừng mọc lên. Và không có ý nghĩa nào khác, đó chính là "chiến công" của họ trong thời bình.

Có thể bạn quan tâm