Ngay sau ngày giải phóng, thống nhất đất nước ông Bùi Đức Hòa cùng đồng đội được giao nhiệm vụ Tiếp quản và công tác ngay trong dinh Độc Lập. Tại đây, ngoài việc hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác, ông đã tự ôn thi và thi đậu Đại học Bách khoa Sài Gòn năm 1976. Với tấm bằng Hạng ưu, ông được Đảng, Nhà nước cử đi học tại Liên Xô (cũ). Năm 1983 ông về nước tiếp tục công tác tại Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hà Bắc (cũ) - nay là Bắc Giang. Bên cạnh công tác, bằng kiến thức học tập từ nước bạn, ông Hòa đã mày mò nghiên cứu và chế tạo thành công máy ép cọc trong xây dựng công trình dân dụng. Từ kết quả này, ông tiếp tục nghiên cứu, đến năm 1993, ông Hòa đã chế tạo thành công cỗ máy khoan nhồi đầu tiên của Bắc Giang.
Từ đó đến nay, phát huy truyền thống “anh Bộ đội Cụ Hồ” trong thời bình, ông Hòa đã mở rộng công nghệ khoan cọc để hỗ trợ nhiều công trình xây dựng, bảo đảm công ăn việc làm ổn định cho hàng chục lao động tại địa phương.
Gặp ông Hòa đứng bên cỗ máy khoan của mình, nguyên Tiểu đội trưởng đặc công năm xưa dí dỏm nói: “Cách đây đúng 40 năm, ngày 26-4-1975 quân ta mở màn đánh thẳng vào Sài Gòn - sào huyệt cuối cùng của chế độ Mỹ - Ngụy. Ngày ấy mình lái cả xe tăng có nòng pháo ngạo nghễ bắn đạn tiêu diệt kẻ thù. Còn bây giờ, trên trên mặt trận kinh tế, mình lại lái loại xe có gắn “nòng pháo” (Cần cẩu máy khoan nhồi - PV) vừa dài vừa to, nhưng lại “bắn” vào lòng đất bằng bê-tông để xây nên những công trình cao tầng mới”.
Vinh dự được gặp nguyên Tiểu đội trưởng đặc công Bùi Đức Hòa trong những ngày cả dân tộc Việt Nam đang náo nức hướng về kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng miền nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 - 30-4-2015), ông kể cho tôi nghe những kỷ niệm của ông về một ngày trong Trại Đa-vít trước ngày miền nam được giải phóng.
Ông Hòa bồi hồi kể lại: “Cách đây 40 năm về trước tôi cùng đồng đội từng sống, chiến đấu tại Trại Đa-vít, cách sân bay Tân Sơn Nhất khoảng 1km. Tôi còn nhớ như in về cái đêm 28, rạng sáng ngày 29-4-1975. Đây là một kỷ niệm bi hùng, không thể nào quên”.
Ông Hòa nhớ vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 28-4-1975, lúc đó đơn vị đang chuẩn bị bữa cơm chiều thì một tốp máy bay A37 bất ngờ xuất hiện và thả mấy loạt bom hình bầu dục rơi xuống gần căn nhà của Tiểu đội vệ binh số 3 trong trại Đa-vít. Một loạt tiếng nổ lớn kèm theo khói đen lẫn lửa đỏ bốc lên cuồn cuộn, mảnh vỡ văng tung tóe, tiếng kêu la hoảng hốt của lính Sài Gòn, tiếng đại liên của quân địch bắn trả yếu ớt từ các ổ súng phòng không.
Theo phương án tác chiến đã chuẩn bị kỹ càng từ trước, các tiểu đội 1 (hướng nam), tiểu đội 2 (hướng đông nam), tiểu đội 3 (hướng đông) nhanh chóng vào vị trí chiến đấu. Đến gần 4 giờ sáng ngày 29-4-1975, sau tiếng tiếng rít chói tai, hàng loạt tiếng nổ đinh tai của pháo hạng nặng làm rung chuyển cả sân bay Tân Sơn Nhất. Những tiếng nổ ngày càng đanh hơn, dày hơn ngay gần chỗ đơn vị ông đang canh gác. Đất đá, mảnh đạn văng rào rào. Rồi đèn điện tắt phụt, nhưng bên sân bay vẫn sáng vì có nhiều đám cháy mỗi lúc một loang rộng hơn. Quân địch chạy tán loạn tìm nơi ẩn nấp.
Ở tiểu đội 2, một quả đạn pháo rơi trúng mái nhà S527, mảnh đạn lia đứt cánh quạt trần văng xuống sàn gỗ, gây thương tích nặng cho trung sĩ vệ binh Nguyễn Quang Hòa đang làm nhiệm vụ cảnh giới phía trên. Máu trào ra từ phía trái cổ trung sĩ Hòa, buộc đơn vị phải cấp cứu tại chỗ.
Đồng đội vác Hòa băng tắt qua mấy khu nhà trên mặt đất để sang hầm quân y, trong lúc pháo ta vẫn nổ cấp tập. Đến nơi, Hòa chỉ còn thoi thóp. Đơn vị được lệnh sẵn sàng để tiếp máu, song vì vết thương quá nặng nên trung sĩ Hòa hy sinh ít phút sau đó.
Cũng trong những loạt đạn pháo đầu tiên, một quả pháo đã rơi trúng căn nhà T530, mảnh đạn găm thẳng vào ngực anh đại úy an ninh Nông Văn Hưởng khi đang làm nhiệm vụ theo dõi tình hình ở phía trên. Anh hy sinh tại chỗ. Ngoài ra còn ba đồng chí khác bị thương nặng, trong đó có trung tá Nguyễn Tiến Bộ. Một chân anh bị mảnh đạn làm gãy nát, máu chảy đầm đìa.
Bất chấp tiếng đạn pháo gầm rú trên đầu, ông Bùi Đức Hòa cùng đồng đội vẫn khiêng thương binh băng trên mặt đất tới hầm quân y để kịp thời cứu chữa. Hầm quân y là một căn nhà ngầm được đào khá công phu, diện tích đủ cho 12 người làm việc và nằm điều trị, được trang bị đầy đủ các thiết bị y tế dã chiến. Xuống hầm, ông Hòa nhìn thấy bác sĩ Sáu Sơn đang rất khẩn trương cứu chữa thương binh. Với kinh nghiệm nhiều năm ở chiến trường, anh vừa cấp cứu, vừa động viên làm cho bầu không khí trong căn hầm ấm tình đồng đội và bớt phần căng thăng.
Đứng cạnh anh Sáu Sơn, thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn ôn tồn thăm hỏi tình hình sức khỏe của từng thương binh và động viên anh em quân y tận tình cứu chữa cho đồng đội. Thái độ bình tĩnh của ông lúc này y hệt những lần mà ông Hòa từng chứng kiến. Đó là khi được đi bảo vệ ông đến các cuộc đấu tranh trực diện với địch tại hội trường Phi Long. Mỗi lần phía bên kia tỏ thái độ ngoan cố hay khiêu khích, có khi đối phương đập bàn đập ghế hay phát ngôn tục tằn, ông luôn giữ thái độ hết sức bình tĩnh, nét mặt nghiêm nghị, giọng nói đanh thép và lập trường kiên định, khiến đối phương phải lùi bước và có thái độ “phải chăng” hơn trên bàn hội nghị.
Để ổn định tình hình và tranh thủ lúc trời còn tối, chỉ huy đơn vị đã lệnh cho Bùi Đức Hòa và chiến sĩ Đặng Trọng Lương của tiểu đội 2 khâm liệm, rồi đào huyệt tạm để chôn cất. Lúc này, phải bằng mọi cách phải bảo đảm an toàn dưới làn đạn pháo, tránh để xảy ra thêm thương vong. Đặc biệt là phải giữ bí mật tuyệt đối, vì nếu để phía địch phát hiện bất kỳ động thái nào thì chúng có thể tấn công đơn vị của ông ngay lập tức.
Hai người nhanh chóng đào huyệt cho hai đồng đội ngay đầu hầm quân y. Gọi là hầm nhưng đây chỉ là một bục khung nổi, có nóc bằng tấm sắt đục lỗ, phía trên có vài lượt bao cát do lính Mỹ làm trước đây. Căn hầm đơn sơ này nằm trước hàng rào phía bắc, cách sân bay Tân Sơn Nhất một hàng rào kẽm gai và một con hào sâu.
Trong sân bay Tân Sơn Nhất, pháo vẫn nổ liên hồi. Ông Hòa cùng đồng đội dùng những dụng cụ thô sơ mà hôm trước đã dùng đào địa đạo để đào nơi an nghỉ cho hai đồng đội vừa hy sinh. Hai ông hiểu những rủi ro nếu để chậm đến lúc trời sáng, nên dồn hết sức tiếp tục đào bới trong bóng tối, lúc cần lắm thì soi đèn pin sát mặt đất để nhìn cho rõ hơn.
Mỗi lần nghe tiếng pháo rít trên đầu, hai ông nằm sát mặt xuống đất, chờ cho pháo nổ lại tiếp tục đào. Mồ hôi ướt sũng người, mặt mũi dính đầy đất cát, hai mắt cay xè. Nhưng nghĩ đến đồng đội đang nằm chờ kia, hai ông không thể cầm lòng và càng cố sức hoàn thành công việc càng nhanh càng tốt.
Bọc hai đồng đội trong hai bộ ga trắng, hai áo ny-lông dã chiến và gắn đủ họ tên, quê quán, đơn vị… Vất vả lắm, hai người mới đặt được hai anh nằm ngay ngắn bên nhau với sự giúp đỡ của các cán bộ quân y. Tiễn đưa các anh trong đêm tối, quá gấp gáp và nguy hiểm, chẳng có hương hoa mà chỉ có hoa lửa của đạn pháo ta nã vào đầu thù. Lòng ông đau thắt, mắt đẫm lệ.
Các anh đã ngã xuống chỉ đúng một ngày trước khi thành phố Sài Gòn hoàn toàn được giải phóng. Đau đớn, thương tiếc các đồng đội, một phút mặc niệm trước nấm mồ tạm của các đồng đội mình, lòng ông đau nhói, không nói nên lời mà nước mắt chạy vòng quanh.