Lâm Đồng là một trong những địa phương có nền nông nghiệp hàng hóa phát triển mạnh, với sản phẩm chủ lực như cà-phê, rau, hoa, hồ tiêu, sầu riêng và nhiều loại cây trồng khác. Tuy nhiên, cùng với quá trình sản xuất là lượng chất thải ngày càng lớn, trong đó đáng lo ngại là bao bì, chai lọ thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng. Nếu bị vứt lại trên nương rẫy, xuống kênh mương hoặc xử lý không đúng cách, loại chất thải này có thể gây ô nhiễm đất, nước và ảnh hưởng sức khỏe cộng đồng.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, toàn tỉnh hiện có hơn 1 triệu héc-ta đất sản xuất nông nghiệp. Mỗi năm, địa phương phát sinh khoảng 276 tấn bao gói thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng, trong khi tỷ lệ được thu gom, xử lý đúng quy định mới đạt khoảng 18,9%.
Để thu gom và xử lý rác thải nguy hại, xã Đắk Sắk xây dựng các bể chứa trên những tuyến đường vào khu sản xuất, vùng trồng cà-phê, qua đó từng bước thay đổi thói quen của người dân. Gia đình bà Đàm Thị Vấn ở thôn Thanh Sơn có hơn 1,5 ha cà-phê. Trước đây, sau mỗi lần phun thuốc, bao bì, chai lọ thường bị bỏ lại ven rẫy, bờ ao; nước vệ sinh bình phun cũng có khi xả trực tiếp ra đất.
Theo bà Vấn, nhận thức của người dân thay đổi đáng kể từ khi địa phương và các đơn vị phối hợp xây dựng điểm chứa rác ngay gần khu vực sản xuất. “Bây giờ người dân có chỗ để bỏ rác, cho nên tiện hơn nhiều. Sau khi sử dụng thuốc, tôi gom chai lọ lại rồi đưa đến bể chứa. Mọi người cũng nhắc nhau không vứt ra rẫy như trước”, bà Vấn chia sẻ.
Toàn xã Đắk Sắk hiện có hơn 7.000 ha cà-phê, phát sinh lượng lớn bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau mỗi vụ sản xuất. Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Y Thoa cho biết, địa phương đã phối hợp doanh nghiệp và các đơn vị tài trợ xây dựng 20 bể chứa rác thải nguy hại tại những vị trí thuận lợi.
Có nơi tập kết, người dân từng bước hình thành thói quen thu gom chai lọ ngay tại vườn, đưa công việc này vào quy trình sản xuất. Tại nhiều vùng sản xuất nông nghiệp của tỉnh như Di Linh, Nam Ban Lâm Hà, Nam Hà Lâm Hà, Quảng Sơn…, việc thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật cũng được đưa vào các chương trình sản xuất theo hướng bền vững, giảm phát thải.
Những mô hình nêu trên cho thấy thay đổi hành vi của người sản xuất có thể bắt đầu từ những giải pháp rất cụ thể. Tuy nhiên, thu gom mới chỉ là bước đầu, xây dựng bể chứa chưa đồng nghĩa với xử lý triệt để. Theo các chuyên gia, điều quan trọng là rác sau khi đưa vào bể sẽ được vận chuyển, xử lý thế nào, ai chịu trách nhiệm và thời gian lưu giữ bao lâu.
Nếu bể chứa đầy nhưng không được thu gom kịp thời hoặc đưa đến cơ sở không đáp ứng quy định, nguy cơ ô nhiễm vẫn còn. Khi đó, rác thải nguy hại chỉ chuyển từ những điểm phân tán ngoài đồng ruộng về một điểm tập trung chứ chưa thật sự được xử lý.
Tiến sĩ Phạm Tuấn Anh, chuyên gia nông nghiệp cho rằng, rác thải không phải thứ xuất hiện sau mà là một phần của quá trình sản xuất và phải được tính đến ngay từ đầu. Khi đánh giá hiệu quả nông nghiệp, lâu nay người ta thường chú trọng diện tích, năng suất, sản lượng và giá trị xuất khẩu.
Đây là những chỉ tiêu quan trọng nhưng chưa đủ để đánh giá tính bền vững. Một nền sản xuất có thể đạt năng suất cao, nhưng nếu làm suy giảm chất lượng đất, ô nhiễm nguồn nước hoặc phát sinh lượng lớn chất thải nguy hại thì thành quả khó duy trì lâu dài.
Vì vậy, quản lý rác thải phải được tính ngay từ khâu tổ chức sản xuất. Người nông dân cần biết cách thu gom, phân loại và tập kết; chính quyền tổ chức mạng lưới thu gom phù hợp; doanh nghiệp tham gia thu hồi, vận chuyển và xử lý. Bao bì thuốc bảo vệ thực vật là chất thải nguy hại, không thể đốt ngoài trời hoặc chôn lấp tùy tiện.
Sau khi thu gom, phải được vận chuyển và xử lý theo quy định, phù hợp với đặc tính nguy hại. Một trong những vấn đề cần thay đổi là cách phân bổ trách nhiệm. Lâu nay câu chuyện rác thải nông nghiệp thường được nhìn chủ yếu từ góc độ ý thức của người dân. Nông dân được vận động không vứt chai lọ ra môi trường, phải thu gom và đưa đến nơi quy định.
Điều đó là cần thiết, nhưng chưa đủ. Một sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật đến tay người nông dân là kết quả của cả chuỗi: Từ nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, hệ thống phân phối đến đại lý và người sử dụng. Do đó, trách nhiệm đối với bao bì sau sử dụng cũng cần được đặt trong toàn bộ vòng đời sản phẩm.
Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đặt ra trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhập khẩu (EPR) đối với một số sản phẩm, bao bì và trách nhiệm quản lý chất thải theo quy định. Đây là cơ sở quan trọng để chuyển sang cách tiếp cận căn cơ hơn: Doanh nghiệp không chỉ đưa sản phẩm ra thị trường mà còn phải tham gia giải quyết các vấn đề môi trường phát sinh trong vòng đời sản phẩm, theo phạm vi và trách nhiệm được pháp luật quy định.
Theo Tiến sĩ Phạm Tuấn Anh, cần chuyển từ tư duy “dọn dẹp hậu quả” sang quản lý chất thải trong toàn bộ vòng đời sản phẩm. Có thể nghiên cứu xây dựng mạng lưới thu gom phù hợp đặc thù sản xuất phân tán ở nông thôn, đồng thời ứng dụng công nghệ để kiểm soát lượng vật tư đưa ra thị trường và tỷ lệ bao bì được thu hồi. Khi trách nhiệm được phân bổ cho cả chuỗi, người nông dân sẽ không còn là mắt xích cuối cùng phải tự xoay xở với rác thải độc hại sau sử dụng.