Tháng 9-1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, thực dân Pháp tiến hành khủng bố tàn khốc, thủ tiêu các quyền tự do dân chủ tối thiểu mà nhân dân ta đã giành được trong thời kỳ Mặt trận dân chủ. Năm 1940, Nhật vào Ðông Dương, nhân dân ta chịu cảnh "thân một cổ hai tròng nô lệ". Các Hội nghị T.Ư lần thứ 6 (11-1939), lần thứ 7 (11-1940) chủ trương đề cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Giữa lúc cao trào cách mạng phát triển mạnh mẽ, ngày 28-1-1941, sau nhiều năm hoạt động ở nước ngoài, đồng chí Hồ Chí Minh trở về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Hội nghị T.Ư lần thứ 8 họp tại Pác Bó (Hà Quảng, Cao Bằng) từ ngày 10 đến 19-5-1941, do lãnh tụ Hồ Chí Minh chủ trì, đã hoàn chỉnh đường lối chỉ đạo chiến lược, đề cao hơn nữa vấn đề dân tộc, chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh, đoàn kết hết thảy mọi người Việt Nam yêu nước, tích cực chuẩn bị mọi điều kiện cho khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Tại Hội nghị này, đồng chí Trường Chinh được bầu làm Tổng Bí thư của Ðảng.
Hội nghị T.Ư lần thứ 8 đã phát triển sáng tạo lý luận về cách mạng vô sản ở một nước thuộc địa; tiến hành công cuộc giải phóng dân tộc, có ý nghĩa quyết định vận động toàn Ðảng, toàn dân ráo riết chuẩn bị tiến tới Tổng khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Trên cơ sở chuyển hướng chiến lược ấy, Ðảng ta từng bước bắt tay chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Về lực lượng chính trị, Ðảng phát triển mạnh mẽ các tổ chức cứu quốc, bố trí trên mọi địa bàn, tạo nên thế đứng vững chắc để khi thời cơ xuất hiện thì tiến hành khởi nghĩa giành thắng lợi. Hội nghị Thường vụ Trung ương tháng 2-1943 chủ trương đẩy mạnh phát triển lực lượng chính trị ở các thành phố, đặc biệt trong giai cấp công nhân. Cũng năm 1943, Ðảng công bố Ðề cương văn hóa Việt Nam nêu lên những nhiệm vụ trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, tập hợp văn nghệ sĩ và trí thức vào Hội văn hóa cứu quốc cùng mục tiêu giải phóng dân tộc dưới ngọn cờ của Ðảng. Về lực lượng vũ trang, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chỉ thị thành lập Ðội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân vào ngày 22-12-1944.
Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp, Ðảng phát động phong trào kháng Nhật cứu nước trên toàn quốc. Khởi nghĩa từng phần nổ ra ở nhiều địa phương, các chiến khu, căn cứ địa được đẩy mạnh xây dựng. Tháng 4-1945, Hội nghị quân sự Bắc Kỳ do Ban Thường vụ T.Ư triệu tập ở Hiệp Hòa (Bắc Giang) "đặt nhiệm vụ quân sự lên trên tất cả các nhiệm vụ cần kíp khác". Theo đó, Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân được thống nhất thành Việt Nam giải phóng quân.
Nắm bắt thời cơ cách mạng, Hội nghị toàn quốc của Ðảng họp tại Tân Trào (từ ngày 13 đến 15-8-1945), đã kêu gọi toàn dân đứng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 16-8-1945, cũng tại Tân Trào, Ðại hội Quốc dân được triệu tập tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Ðảng, bầu Ủy ban dân tộc giải phóng do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Dưới sự lãnh đạo của Ðảng, 25 triệu đồng bào ta, với tinh thần "đem sức ta mà giải phóng cho ta", đã nhất tề vùng lên giành chính quyền trong 15 ngày (từ 13 đến 28-8-1945), chấm dứt sự thống trị gần trăm năm của thực dân và hàng nghìn năm của phong kiến, thiết lập nền dân chủ cộng hòa. Cách mạng Tháng Tám 1945 là thắng lợi của đường lối cách mạng đúng đắn, nghệ thuật lãnh đạo khởi nghĩa vũ trang tài tình của Ðảng, phát triển và làm phong phú lý luận cách mạng giải phóng dân tộc. Ngày 22-8-1945, Bác Hồ rời Tân Trào về Hà Nội; ngày 27-8-1945, Người triệu tập cuộc họp Ủy ban dân tộc giải phóng đề nghị thành lập Chính phủ lâm thời. Bác Hồ được bầu làm Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Ðình, Hà Nội, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Ðộc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước CHXHCN Việt Nam.