Sáng 9/4, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội thảo luận ở Tổ về 4 dự án Luật, gồm: Luật Hộ tịch (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý và Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Nhiều đại biểu dành sự quan tâm, góp ý dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi).
Tạo đột phá trong chuyển đổi số và phương thức cung cấp thông tin
Đại biểu Tạ Đình Thi (Đoàn thành phố Hà Nội) cho hay, theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW, Luật Tiếp cận thông tin vẫn chưa tạo ra sự bứt phá, tận dụng tối đa chuyển đổi số phục vụ cho người dân.
Đặt ra 4 vấn đề với Ban soạn thảo Luật Tiếp cận thông tin, đại biểu Tạ Đình Thi đề xuất, về nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, dự thảo đã có những bổ sung theo hướng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số trong cung cấp thông tin, điều này là phù hợp. Tuy nhiên, vẫn còn sự pha trộn giữa phương thức truyền thống và phương thức số. Trong khi đó, theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW, chuyển đổi số phải là phương thức chủ đạo, không chỉ là giải pháp hỗ trợ.
Do đó, đại biểu đề nghị sửa khoản 3, Điều 3 theo hướng ưu tiên cung cấp thông tin trên môi trường số là chính; các hình thức truyền thống chỉ áp dụng đối với các đối tượng đặc thù hoặc ở vùng khó khăn. Như vậy mới buộc các cơ quan thực sự chuyển sang làm việc trên môi trường số, thay vì vẫn duy trì thói quen làm việc trên giấy như hiện nay.
Về công khai thông tin trên cổng/trang thông tin điện tử (Điều 19), dự thảo hiện liệt kê tới 19 nhóm thông tin bắt buộc phải đăng tải. Đại biểu đề nghị không nên liệt kê chi tiết các nhóm thông tin, mà chỉ quy định theo nguyên tắc: các thông tin đã được số hóa trong cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành phải được công khai, kết nối, chia sẻ qua Cổng Dịch vụ công quốc gia và Cổng dữ liệu quốc gia. Đồng thời, giao Chính phủ quy định chi tiết danh mục để bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với thực tiễn.
Về hình thức yêu cầu cung cấp thông tin (Điều 24), đại biểu đề nghị luật cần quy định rõ: tất cả các cơ quan, đơn vị phải thiết lập và duy trì kênh tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin trực tuyến; không được yêu cầu người dân phải đến trực tiếp nếu đã có yêu cầu qua môi trường số. Đồng thời, cần tích hợp các chức năng này vào các nền tảng đang triển khai như ứng dụng VNeID hoặc Cổng Dịch vụ công quốc gia để bảo đảm thống nhất, thuận tiện.
Đại biểu cho rằng, đối với thông tin đã có sẵn trong dữ liệu điện tử: thời hạn cung cấp không quá 24 giờ; đối với thông tin cần tra cứu, tổng hợp: không quá 3 ngày. Trường hợp chậm hơn phải có lý do chính đáng, tránh gây phiền hà cho người dân.
“Việc sửa đổi lần này cần tạo ra bước chuyển biến thực chất về chất lượng cung cấp và tiếp cận thông tin, khắc phục những bất cập của luật hiện hành, theo đúng tinh thần thể chế hóa Nghị quyết 57 một cách toàn diện và căn bản. Vì vậy, tôi đề nghị Ban soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, rà soát, chỉnh lý dự thảo theo hướng tinh gọn, hiện đại, giảm thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xử lý và bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân một cách thực chất nhất”, đại biểu Tạ Đình Thi nói.
Góp ý cho dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi), Đại biểu Trần Thị Hoa Ry (Đoàn Cà Mau) cũng đề xuất, về chuyển đổi số trong tiếp cận thông tin, dự thảo cần quy định rõ hơn theo hướng bắt buộc: thông tin phải được công khai trên môi trường số, theo định dạng dữ liệu mở, có khả năng kết nối, chia sẻ liên thông. Cần xác định rõ nguyên tắc, nếu chưa được công khai trên môi trường số thì chưa được coi là hoàn thành nghĩa vụ công khai.
Đối với việc bảo đảm tiếp cận thông tin cho nhóm yếu thế, đại biểu này đề nghị bổ sung các quy định mang tính khả thi hơn, như cung cấp thông tin bằng ngôn ngữ phù hợp, đa dạng hình thức tiếp cận, tăng cường hỗ trợ trực tiếp tại cơ sở, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.
Nhất trí với dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) thể hiện rõ sự chuyển biến về tư duy, từ bị động cung cấp thông tin sang chủ động công khai, minh bạch, hướng tới người dân và doanh nghiệp, đại biểu Nguyễn Thị Lan (Đoàn thành phố Hà Nội) chia sẻ, quy định hiện nay chưa làm rõ ranh giới giữa thông tin phải công khai và thông tin cần bảo vệ.
Trong thực tế, các trường đại học, viện nghiên cứu vừa thực hiện nhiệm vụ công, vừa có hoạt động hợp tác với doanh nghiệp và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Nếu không phân định rõ, có thể dẫn đến hai rủi ro, hoặc là công khai quá mức, ảnh hưởng đến quyền sở hữu trí tuệ và lợi ích kinh tế; hoặc ngược lại, né tránh công khai, làm giảm tính minh bạch.
"Ví dụ, một giống cây trồng mới hoặc một quy trình công nghệ nếu công khai sớm có thể làm mất cơ hội bảo hộ", đại biểu này nói và đề nghị bổ sung quy định phân loại thông tin thành 3 nhóm: công khai bắt buộc, công khai có điều kiện và không công khai; đồng thời làm rõ cơ chế bảo vệ tài sản trí tuệ trong các đơn vị sự nghiệp công lập.
Về nguyên tắc tiếp cận thông tin gắn với chuyển đổi số (Điều 3), đại biểu đề xuất cần tiến thêm một bước: chuyển từ “cung cấp thông tin” sang “phát triển dữ liệu” trên môi trường số. Thực tiễn cho thấy, nếu các dữ liệu như khí hậu, đất đai, dịch bệnh, thị trường… được công khai dưới dạng dữ liệu mở, có thể khai thác và tái sử dụng, thì doanh nghiệp có thể phát triển các giải pháp công nghệ như trí tuệ nhân tạo, tối ưu sản xuất, chuỗi cung ứng và tạo ra nhiều giá trị gia tăng.
Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy dữ liệu mở là nền tảng quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Vì vậy, đại biểu Nguyễn Thị Lan đề nghị bổ sung nguyên tắc: thông tin được cung cấp theo hướng dữ liệu mở, có khả năng khai thác, chia sẻ và tái sử dụng; đồng thời quy định chuẩn dữ liệu và khả năng kết nối, liên thông giữa các hệ thống.
Hoàn thiện cơ chế bảo đảm minh bạch, dữ liệu và trách nhiệm cung cấp thông tin
Tại thảo luận tổ, các đại biểu cũng dành nhiều sự quan tâm đến trách nhiệm cung cấp thông tin và dữ liệu.
Theo đại biểu Nguyễn Thị Lan (Đoàn thành phố Hà Nội), trong thực tế, nhiều loại thông tin mang tính liên ngành, liên cơ quan. Thí dụ, dữ liệu về dịch bệnh trong nông nghiệp có sự tham gia của bộ, địa phương, các cục, viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm, trường đại học. Nếu không có cơ chế phối hợp rõ ràng, sẽ dẫn đến chồng chéo hoặc đùn đẩy trách nhiệm.
Do đó, đại biểu Nguyễn Thị Lan cho rằng, cần phải bổ sung quy định về cơ chế phối hợp, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan; đồng thời xác định rõ đầu mối chịu trách nhiệm cung cấp thông tin đối với các lĩnh vực liên ngành, nhằm bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả.
Với thông tin không được tiếp cận và tiếp cận có điều kiện (Điều 15, 16), đại biểu này cho rằng dự thảo đã quy định khá đầy đủ các nhóm thông tin này. Tuy nhiên, một số khái niệm còn mang tính định tính như “gây ảnh hưởng xấu”, “bí mật công tác”… có thể dẫn đến cách hiểu và áp dụng không thống nhất.
Nếu không làm rõ, các quy định này có thể bị lạm dụng để từ chối cung cấp thông tin, làm giảm hiệu lực của luật. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các quốc gia đều quy định rất rõ danh mục thông tin hạn chế và tiêu chí cụ thể, minh bạch. Do đó, đại biểu đề nghị cần cụ thể hóa các tiêu chí này hoặc giao Chính phủ ban hành danh mục chi tiết để bảo đảm áp dụng thống nhất.
Cùng quan điểm này, đại biểu Trần Thị Hoa Ry (Đoàn Cà Mau) đề nghị Ban soạn thảo cần quy định rõ tiêu chí xác định, thu hẹp phạm vi, đồng thời bắt buộc việc từ chối cung cấp thông tin phải được giải trình bằng văn bản, nêu rõ căn cứ pháp lý và chịu sự giám sát.
Về cơ chế từ chối cung cấp thông tin, quy định trong Điều 27 còn khá chung chung, thiếu tiêu chí cụ thể, dễ dẫn đến tình trạng né tránh trách nhiệm. Vì thế, đại biểu đề nghị cần làm rõ các tiêu chí này, đồng thời bổ sung cơ chế khiếu nại nhanh, rút ngắn thời gian giải quyết, bảo đảm quyền của người dân được bảo vệ kịp thời.
Dự thảo hiện mới dừng ở quy định mang tính nguyên tắc về chế tài xử lý vi phạm. Trong khi đó, thực tiễn cho thấy tình trạng chậm cung cấp, né tránh hoặc cung cấp không đầy đủ thông tin vẫn diễn ra. Vì vậy, đại biểu đề xuất cần bổ sung chế tài cụ thể, đủ sức răn đe, gắn với trách nhiệm cá nhân, đặc biệt là người đứng đầu; đồng thời xem xét công khai các cơ quan, đơn vị vi phạm để nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình.