Toàn cầu hóa và vấn đề sức khỏe

Thuật ngữ "toàn cầu hóa" thường được hiểu là "sự hội nhập kinh tế toàn cầu", hay là sự xóa bỏ các ranh giới nội bộ và tự do hóa từ bên ngoài vào, là một quá trình lồng ghép, hội nhập các nền kinh tế, các hệ thống xã hội do sự chuyển dịch hàng hóa, vốn, nhân lực - con người.

Khi đời sống người dân lên cao, cùng với nhu cầu đi lại và chuyên chở hàng hóa, nhiều người dân có các phương tiện cơ giới đi lại thì số tai nạn cũng tăng lên. Tai nạn giao thông ở Việt Nam cũng gia tăng (từ năm 1994 đến 2002) số lượng mắc tai nạn giao thông tăng từ 14.174 lên 29.827, số chết tăng từ 4.907 lên 12.956 trường hợp. Sự không bình đẳng trong thu nhập đã trở thành nguyên nhân chính gây trầm cảm, rối loạn tâm thần, rối loạn hành vi, nghiện rượu, bạo lực gia đình, tự tử, xung đột. Tại các quốc gia như Liên Xô (trước đây), sự mất bình đẳng đã trở nên phổ cập và chi tiêu công giảm đi mặc dù kinh tế có bước tăng lên. Ðã có các bằng chứng về sự vượt trội trong những nhóm người giàu có chi trả thêm không chính thức để nhận được chăm sóc y tế tốt hơn. Khoảng chừng 25% chi phí y tế ở Romania và 20% ở Hungary là chi phí tiêu cực cho việc buôn bán thuốc đắt tiền và "cảm ơn" thầy thuốc.

Toàn cầu hóa còn đi cùng với việc dỡ bỏ các sắc thuế, nhất là thuế nhập khẩu, sẽ làm giảm thu nhập của Nhà nước qua thuế. Vì thế, Nhà nước càng giảm khả năng bao cấp cho giáo dục và y tế. Các chỉ số phát triển của Ngân hàng thế giới cho thấy, chi tiêu công  cho sức khỏe không tăng lên (1,12% GDP vào năm 1990 so với 1,13% GDP năm 1996) và chi tiêu công cho giáo dục còn giảm từ 3,43% xuống 3,25% trong cùng giai đoạn đó.

Mặc dù việc lưu thông thực phẩm và các hàng hóa khác cũng có thể lan truyền bệnh tật, các bệnh dịch nguy hiểm như HIV/AIDS, hội chứng viêm đường hô hấp cấp tính nặng SARS, cúm,... là những thí dụ rõ nhất về tác động tiêu cực của sự tự do hóa toàn cầu về du lịch, đi lại và nhập cư đối với sức khỏe và kinh tế. Tại Trung Quốc, khi mà quá trình cải cách theo hướng hội nhập kinh tế và mở cửa được bắt đầu thì một số bệnh lây truyền qua đường tình dục, vốn gần như đã được loại trừ vào những năm 60 của thế kỷ 20, đã lan rộng nhanh chóng.

Toàn cầu hóa dẫn đến việc phụ nữ ngày càng phải tham gia vào lực lượng lao động. Tại Ðông Á và Ðông-Nam Á, ước tính có tới 80% số nhân lực làm việc trong các khu chế xuất là phụ nữ. Phụ nữ phải kiếm việc làm ở thành phố và để lại trẻ em tại miền thôn quê cho nên thiếu chăm sóc của cha mẹ. Tại Bangladesh, số lượng nhà máy dệt tăng từ 4 vào năm 1978 lên 2.400 vào năm 1995 và sử dụng tới 1,2 triệu lao động, trong đó 90%  số phụ nữ dưới tuổi 25. Nhưng sự tăng thu nhập cá nhân không đi cùng với sự chăm sóc tốt hơn đối với trẻ em, thể hiện ở tình trạng suy dinh dưỡng, không được học hành và giáo dục đầy đủ. Vì thế, sức khỏe bà mẹ và trẻ em cũng là vấn đề đáng quan tâm.

Các hiệp định, hiệp ước quốc tế cũng có thể gây khó khăn cho các nước đang phát triển và nước nghèo phổ cập các thuốc chữa bệnh đặc trị giá rẻ. Chẳng hạn: Các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ TRIPS là một phần của Hiệp định Thương mại thế giới 1994, có quy ước quốc tế bảo hộ cho các phát minh  mới có khi tới 20 năm, làm cho các nước đang phát triển càng khó khăn hơn trong khả năng sản xuất hoặc nhập khẩu các thuốc đặc trị mới. Thí dụ: Trị liệu kháng Retrovirus hoạt tính cao (HAART) có tác dụng rất tốt để kéo dài tuổi thọ và giảm các nhiễm trùng cơ hội cho người bệnh HIV/AIDS, nhưng giá  của nó lên tới hơn 10 nghìn USD/năm. Với chi phí như thế, các nước nghèo làm sao cải thiện mô hình bệnh tật của dân chúng? Mặt khác, dịch vụ y tế cũng chịu những ảnh hưởng có lợi và có hại. Có lợi là sự hiện diện của dịch vụ và thương mại nước ngoài ở trong nước, thí dụ qua hình thức đầu tư trực tiếp vào hệ thống bệnh viện, vào sản xuất dược phẩm. Có hại là tình trạng chảy máu chất xám do các chuyên gia giỏi ra nước ngoài làm việc hoặc làm việc cho các công ty, tổ chức nước ngoài tại trong nước, khiến chất lượng dịch vụ y tế công bị ảnh hưởng.

Như vậy, về mặt tích cực, toàn cầu hóa kinh tế có thể là một công cụ để phát triển kinh tế, phúc lợi xã hội, tăng thu nhập và qua đó gián tiếp nâng cao sức khỏe quốc dân. Về mặt tiêu cực, việc hội nhập bằng mọi giá, quá nhanh và chưa được chuẩn bị kỹ các điều kiện nội tại (sự phát triển của nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng kinh tế, hạ tầng xã hội, các chính sách đối ngoại và hợp tác quốc tế) sẽ có thể tạo ra các vấn đề về tính hiệu quả, sự công bằng và có thể tác động không tốt lên tình trạng sức khỏe.

Vì vậy, khi tiến trình hội nhập Tổ chức Thương mại thế giới đối với Việt Nam đã trở nên tất yếu và cấp bách như hiện nay thì tất nhiên phải tăng tốc việc xây dựng chiến lược rõ ràng về y tế (chủ động tạo ra các công cụ chính sách và pháp lý thích hợp, đổi mới hệ thống để đạt được hiệu quả và công bằng cao hơn trong các dịch vụ y tế) và đi cùng với tháo dỡ các rào cản nội tại của ngành y tế. Nhưng việc tháo dỡ ngay các rào cản nội tại trong ngành y tế là không khả thi. Vì sự đầu tư cho y tế dù mạnh tay đến đâu cũng không phải là "mua" ngay được mà phải chờ "cây" lớn dần. Và do đó, giải pháp hội nhập về y tế không đi cùng với hội nhập kinh tế, thương mại mà sẽ từng bước và đi sau?

Có thể bạn quan tâm