Theo thống kê, Việt Nam có hơn 3.450 hệ thống sông, suối lớn nhỏ, tiềm năng thủy điện, về lý thuyết khá lớn, với tổng công suất khoảng 35.000 MW và điện lượng khoảng 300 tỷ kWh/năm. Trong đó, miền bắc chiếm khoảng 60%, miền trung chiếm khoảng 27%, và miền nam chiếm khoảng 13%.
Các hồ thủy điện, với tổng dung tích hàng chục tỷ m3, đã đóng vai trò quan trọng trong việc chủ động tích trữ, để bổ sung lưu lượng, cấp nước về mùa kiệt và cắt giảm lũ phục vụ sinh hoạt, sản xuất, bảo vệ môi trường... cho hạ du.
Đánh giá của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy, các hồ thủy điện sẽ chiếm khoảng 86% tổng dung tích của các hồ chứa trong cả nước (56 tỷ m3 trong tổng số 65 tỷ m3). Đây là nguồn dung tích trữ nước cực kỳ quan trọng, trong những năm qua đã góp phần to lớn, bảo đảm an ninh nguồn nước, đóng vai trò chủ chốt, bảo đảm chủ động điều tiết, cấp nước và chống, giảm lũ cho hạ du, đặc biệt là khu vực miền bắc.
Đồng thời, với việc đầu tư xây dựng các dự án thủy điện (DATĐ), một số cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội như điện, đường, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa... trong các khu vực tái định cư được nâng cấp, xây dựng mới khá đồng bộ và kiên cố, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và văn hóa cho người dân địa phương.
Mặc dù vậy, việc đầu tư xây dựng các DATĐ cũng đã gây ảnh hưởng đến dân cư trong khu vực dự án, đời sống sản xuất của nhân dân vùng tái định cư chưa được ổn định và phát triển bền vững, chiếm dụng đất sản xuất nông nghiệp, đất rừng. Điều này, phần nào làm thu hẹp không gian sống, ảnh hưởng tới phong tục tập quán, văn hóa của người dân bản địa và có tác động tiêu cực nhất định đến môi trường - xã hội. Đây là những vấn đề lớn còn tồn tại và cần phải tiếp tục giải quyết, đặc biệt là tại các dự án thủy điện vừa và lớn.
Trong khi đó, theo Bộ Công thương, Việt Nam là quốc gia thiếu nước, vì vậy việc xây dựng các hồ chứa lợi dụng tổng hợp, thủy điện kết hợp thủy lợi vẫn được ưu tiên phát triển.
Cũng theo Bộ Công Thương, để bảo đảm phát triển thủy điện một cách bền vững, phát triển đi đôi với bảo vệ môi trường – xã hội, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành, các nhà máy thủy điện vận hành theo đúng quy trình được phê duyệt, bảo đảm hiệu quả phát điện, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước của hạ du, cắt giảm lũ, hạn chế các tác động tiêu cực tới hạ du.
Cùng với đó, nghiên cứu ban hành quy định về giám sát thực hiện công tác bảo vệ và giảm thiểu tác động tiêu cực đối với môi trường, quy định về dòng chảy tối thiểu ở hạ du các hồ chứa, quy trình vận hành liên hồ chứa về mùa kiệt trên các lưu vực sông, tăng cường kiểm tra công tác quản lý, vận hành các công trình thủy điện, bảo đảm an toàn cho công trình, người dân.
Theo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020, có xét tới năm 2030, Việt Nam sẽ tiếp tục ưu tiên phát triển các nguồn thủy điện, đưa tổng công suất các nguồn thủy điện từ 14.000MW hiện nay lên 21.300MW vào năm 2020; nghiên cứu đưa nhà máy thủy điện tích năng vào vận hành phù hợp với sự phát triển của hệ thống điện, nhằm nâng cao hiệu quả và tối ưu vận hành của hệ thống. Năm 2020, thủy điện tích năng dự kiến có tổng công suất 2.400MW, nâng lên 5.700MW vào năm 2030.
Hiện nay, phần lớn các nguồn năng lượng thủy điện cơ bản đã được khai thác hết, Việt Nam đang đẩy mạnh khai thác các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ; tối ưu vận hành các nhà máy thủy điện trên cùng bậc thang thủy điện để đạt tối đa khả năng khai thác. Bên cạnh đó, Việt Nam từng bước phát triển thị trường điện cạnh tranh, đa dạng hóa phương thức đầu tư và kinh doanh điện.
Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ Công Thương, Cao Quốc Hưng cho biết: Tỷ trọng thủy điện trong cơ cấu nguồn của Việt Nam hiện nay tương đối lớn, lên tới khoảng 40%, và dự kiến đạt tương ứng khoảng 36% và 25% vào các năm 2015 và 2020. Vì vậy, công tác vận hành hệ thống điện sẽ phải đối mặt với những khó khăn và thách thức liên quan tới công tác quản lý, phối hợp hài hòa và vận hành tối ưu các nhà máy thủy điện, đặc biệt là các nhà máy thủy điện trên cùng bậc thang, nhằm đáp ứng các mục tiêu phát điện, tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, phòng chống lũ hạ du, đồng thời đáp ứng các tiêu chí liên quan tới môi trường.
Na Uy là quốc gia có tiềm năng thủy điện lớn trên thế giới. Trong Liên minh châu Âu, điện năng sản xuất từ thủy điện của Na Uy luôn đứng đầu, với sản lượng hàng năm lên tới 120 TWh, chiếm hơn 95% tổng điện năng tiêu thụ tại Na Uy. Với năng lực, trình độ công nghệ, kinh nghiệm xây dựng, vận hành và bảo dưỡng các nhà máy thủy điện từ nhiều năm qua của Na Uy, Thứ trưởng Cao Quốc Hưng tin tưởng các thông tin liên quan tới lĩnh vực thủy điện, mà các đối tác Na Uy mang tới Hội thảo lần này, sẽ có ý nghĩa to lớn trong việc tìm ra các giải pháp dài hạn đối với các vấn đề thủy điện, mà Việt Nam đang phải đối mặt. Ông Hưng cũng hy vọng các đối tác hai bên sẽ cùng chia sẻ với nhau những kinh nghiệm và cơ hội để góp phần thúc đẩy các hoạt động hợp tác cụ thể trong lĩnh vực năng lượng.
Đề xuất về những hỗ trợ từ phía Na Uy, đại diện Cục Năng lượng Việt Nam mong muốn Na Uy sẽ giúp Việt Nam rà soát về quy hoạch thủy điện; hỗ trợ kiểm tra giám sát đặc biệt trong các hồ chứa thủy điện, phát triển các hệ thống thủy điện chức năng... Ngoài ra, đại diện Cục Năng lượng cũng bày tỏ mong muốn muốn được trao đổi kinh nghiệm về việc định giá giá điện của Nauy. Mặt khác, ông cũng cho rằng, ngoài việc giúp đỡ Việt Nam phát triển thị trường điện thì Nauy cũng có thể đầu tư trực tiếp vào các nhà máy điện ở thị trường Việt Nam.