Tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975

Trong quá trình chiến đấu phát triển, ta đã tổ chức xây dựng được các quân đoàn chủ lực - những tập đoàn chiến lược, chiến dịch có đủ sức mạnh để đánh tiêu diệt lớn quân địch. Trình độ tác chiến của ba thứ quân được nâng cao, các binh khí kỹ thuật có sức công phá mạnh được tăng cường, tác chiến hiệp đồng binh chủng đã có thể đánh vào các căn cứ quân sự có công sự vững chắc và đánh vào các đô thị có phòng tuyến nhiều tầng. Lực lượng chính trị phát triển không ngừng cả về số lượng và chất lượng. Phong trào đấu tranh chống Mỹ - ngụy ngày càng lan tỏa rộng khắp. Thời cơ chiến lược Tổng tiến công và nổi dậy trong giai đoạn cuối đã chín muồi.

Quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị và Quân ủy T.Ư đã được quân và dân ta trên chiến trường ra sức thực hiện với nhiều hình thức phong phú, trong đó nổi bật nhất là hai hình thức đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị kết hợp, liên tục tạo thành sức mạnh tổng hợp áp đảo quân địch, giành thắng lợi trong thời gian ngắn nhất. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của toàn quân, toàn dân ta mở màn bằng đòn tiến công chiến lược Tây Nguyên với trận đột phá then chốt Buôn Ma Thuột (10-3) thắng lợi, giải phóng hoàn toàn năm tỉnh Tây Nguyên. Ðòn tiến công chiến lược Huế - Ðà Nẵng (hợp thành bởi ba chiến dịch Trị Thiên - Huế, Nam Ngãi và Ðà Nẵng cuối tháng 3) thần tốc đánh chiếm căn cứ liên hợp quân sự Ðà Nẵng, góp phần làm thay đổi thế và lực trên chiến trường, tạo ra sự nhảy vọt về cục diện chiến tranh hoàn toàn có lợi cho ta để ta đẩy mạnh cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, tập trung lực lượng áp đảo cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng.

Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn - Gia Ðịnh là cuộc hội quân lớn nhất trong lịch sử dân tộc. Ðịch không ngờ rằng, chỉ trong thời gian ngắn (nửa cuối tháng 4-1975), ta đã huy động được năm quân đoàn, một số sư đoàn bộ binh độc lập và các đơn vị binh chủng kỹ thuật, các lực lượng vũ trang địa phương với lực lượng tương đương 260 nghìn quân, 400 xe tăng, xe bọc thép, gần 500 khẩu pháo lớn và hơn nửa triệu tấn vật chất cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền nam.

 Trong cuộc Tổng tiến công chiến lược, bằng các đòn quân sự, các binh đoàn chủ lực (của Bộ, Miền và các quân khu), với phương thức tác chiến hiệp đồng binh chủng hợp thành quy mô lớn đi trước một bước, đã giữ vai trò quyết định, tiêu diệt lớn, đè bẹp sự kháng cự của các tập đoàn chiến lược của quân chủ lực địch, chỗ dựa cuối cùng của chính quyền Sài Gòn. Tác chiến hiệp đồng binh chủng của các binh đoàn chủ lực thể hiện sự tiến bộ vượt bậc của ta cả về quy mô tổ chức, trang bị vũ khí kỹ thuật, trình độ tổ chức chỉ huy hiệp đồng, bảo đảm và trình độ vận dụng sáng tạo các cách đánh chiến dịch chiến lược. Lực lượng vũ trang tại chỗ, bao gồm bộ đội địa phương, dân quân du kích, biệt động, đặc công... đã phối hợp rất tốt với bộ đội chủ lực như: đánh các mục tiêu ở sâu trong hậu phương địch, chiếm giữ các vị trí quan trọng bảo đảm cho cơ động lớn, chặn đánh địch rút chạy, làm nòng cốt cho quần chúng nổi dậy, tiếp quản nhiều cơ sở chính trị, quân sự trong thành phố, tham gia xây dựng chính quyền cơ sở, duy trì trật tự trị an trong các thị xã, thành phố, làm cho địch phải phân tán đối phó, tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực tập trung sức mạnh tiêu diệt các mục tiêu chủ yếu, lực lượng chủ yếu của địch.

Hình thức đấu tranh chính trị và nổi dậy của quần chúng là mặt trận cực kỳ quan trọng. Ðây là chỗ mạnh cơ bản và chiếm ưu thế tuyệt đối của ta, là chỗ yếu chí mạng của địch. Lực lượng chính trị của quần chúng có vai trò rất quan trọng để tiến hành chiến tranh nhân dân. Ðấu tranh chính trị mà biểu hiện cao nhất là nổi dậy của quần chúng, giành quyền làm chủ trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đã có bước phát triển mới về chất trong tổ chức, sử dụng lực lượng, lập thế trận đấu tranh sâu rộng, nhất là ở các vùng địch tạm chiếm, các thành phố lớn, nơi tập trung các cơ quan đầu não chính trị, quân sự của địch (Buôn Ma Thuột, Trị Thiên - Huế, Ðà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Sài Gòn...) cũng như việc vận dụng các hình thức đấu tranh linh hoạt, cả bất hợp pháp, nửa hợp pháp, hợp pháp.

Ðặc biệt, khi quân địch bị vỡ thế trận và dao động về chiến lược, công tác binh vận đã phát huy hiệu quả cao. Ví như trong đòn tiến công chiến lược Tây Nguyên, sau khi bộ đội chủ lực làm chủ thị xã Buôn Ma Thuột, đánh quân phản kích và truy kích tập đoàn quân địch rút chạy trên đường số 7, phối hợp đòn tiến công quân sự, lực lượng vũ trang tại chỗ, các đội võ trang công tác ở các địa phương đã chớp thời cơ phát động nhân dân nổi dậy.

Chỉ trong ba ngày (từ 15 đến 17-3), các lực lượng vũ trang địa phương Ðác Lắc, Gia Lai, Phú Bổn đã làm chủ 53 buôn, 41 "ấp chiến lược" chủ yếu ở các quận Buôn Hồ, Phú Nhơn, Phú Thiện, Phước An. Ngày 18-3, thị xã Cheo Reo được giải phóng, hơn 20.000 dân giành quyền làm chủ, Ủy ban Quân quản ra mắt nhân dân. Ðồng bào các dân tộc Tây Nguyên phấn khởi, tham gia cách mạng, truy quét tàn binh địch, vận động chúng ra trình diện cách mạng. Trong đòn tiến công chiến lược Huế - Ðà Nẵng, phối hợp đòn tiến công mạnh mẽ của bộ đội chủ lực, Tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế và Tỉnh ủy Quảng Ðà đã chỉ đạo các cấp ủy đảng và các đội võ trang công tác ở các huyện Phú Vang, Hương Trà, Hương Thủy, các quận nội thành (Huế), các huyện Tam Kỳ, Duy Xuyên, Ðại Lộc, Ðiện Bàn, Hòa Vang, quận 1, 2, 3 (Quảng Ðà) vận động hàng chục nghìn dân nổi dậy dưới nhiều hình thức như bao vây, kêu gọi, bức hàng, làm tan rã nhiều đơn vị quân ngụy, chiếm giữ các công sở, nhà máy, truy quét ác ôn, trưng cờ, biểu ngữ ủng hộ cách mạng, mừng đón bộ đội về giải phóng.

Ðặc biệt, trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Thành ủy Sài Gòn - Gia Ðịnh, từ ngày 28-4, từ đòn tiến công như vũ bão của năm cánh quân tiến vào nội đô, hàng vạn quần chúng nhân dân các huyện Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp, Thủ Ðức, Bình Chánh đã nổi dậy giải phóng quê hương. Tiếp theo đó (29 và 30-4), hàng vạn quần chúng từ quận 1 đến quận 11 (điển hình là các quận 1, 2, 3, 5, 8, tự vệ công nhân Nhà máy Vimitex, Vinatexco, xí nghiệp Phong Phú, Liên Phương, Chợ Quán, Thủ Ðức) đã nổi dậy truy quét ác ôn, bao vây công sở, buộc địch đầu hàng. Với 107 điểm nổi dậy (31 điểm ngoại thành, 76 điểm nội thành) của nhân dân Sài Gòn - Gia Ðịnh liên tục rộng khắp, không những góp phần quan trọng vào việc làm sụp đổ nhanh chóng hệ thống ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn mà còn đóng góp công sức vô cùng to lớn trong việc bảo vệ cơ sở hạ tầng kinh tế, văn hóa... Chính vì thế, sau khi thành phố được giải phóng, mọi sinh hoạt đã nhanh chóng bình thường trở lại.

Như vậy, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, quân và dân ta đã kết hợp tài tình giữa tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng; kết hợp tác chiến của ba thứ quân, lấy đòn đánh lớn của bộ đội chủ lực đi trước một bước làm then chốt, làm trung tâm phối hợp, đã giành toàn thắng cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Nét đặc sắc của nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân trong cuộc Tổng tiến công chiến lược Xuân 1975 là ở chỗ cuộc tiến công như vũ bão của đòn tiến công quân sự ở bất cứ nơi nào cũng luôn gắn liền với nổi dậy của quần chúng ở các vùng cả nông thôn và thành thị, thực hiện kết hợp chặt chẽ giữa tiêu diệt địch và giành quyền làm chủ. Ðó là hệ quả tất yếu của quá trình phát triển, của sự kết hợp hai hình thức đấu tranh: đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, hai phương thức tiến hành chiến tranh nhân dân: chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng, tiêu diệt địch với giành quyền làm chủ, tạo sức mạnh phi thường cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa

Xuân 1975.

TRẦN TIẾN HOẠT

Có thể bạn quan tâm