Thông tư quy định rất cụ thể phạm vi và đối tượng áp dụng, chẳng hạn:
- Cán bộ, công chức thuộc biên chế hưởng lương từ ngân sách Nhà nước làm việc trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở T.Ư; ở tỉnh, thành phố trực thuộc T.Ư; ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
- Viên chức thuộc biên chế hưởng lương từ ngân sách Nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội (gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập).
- Cán bộ, công chức, viên chức thuộc biên chế Nhà nước và hưởng lương theo bảng lương do Nhà nước quy định được cấp có thẩm quyềncử đến làm việc tại các hội, các tổ chức phi Chính phủ, các dự án và các cơ quan, tổ chức quốc tế đặt tại Việt Nam.
- Cán bộ chuyên trách và công chức ở xã, phường, thị trấn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Ðiều 2 Nghị định số 121/2003/NÐ-CP ngày 21-10-2003 của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn.
- Giáo viên mầm non trong biên chế và giáo viên mầm non hợp đồng quy định tại Quyết định số 161/2002/QÐ-TTg ngày 15-11-2002 của Thủ tướng Chính phủ.
- Cán bộ y tế xã, phường, thị trấn hưởng lương theo Quyết định số 58/TTg
ngày 3-2-1994 và Quyết định số 131/TTg ngày 4-3-1995 của Thủ tướng Chính phủ...
Thông tư cũng quy định công thức tính mức lương, mức phụ cấp; mức tiền của hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có). Thí dụ, công thức tính mức lương như sau: Mức lương thực hiện từ 1-1-2008 bằng mức lương tối thiểu chung (540.000 đồng/tháng) nhân với hệ số lương hiện hưởng.
Thông tư có hiệu lực thi hành từ 1-1-2008.