Thúc đẩy ngành sản xuất thiết bị y tế

Phần lớn TTBYT là hàng nhập khẩu

Ở các bệnh viện từ tuyến T.Ư xuống các quận, huyện, TTBYT phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có hàng trăm chủng loại khác nhau, nhưng phần lớn là hàng nhập khẩu. Trước năm 2000 còn hiếm hoi, nhưng hiện nay, từ các bệnh viện lớn, như Bạch Mai, Việt Ðức, T.Ư Quân đội 108, Chợ Rẫy, Ung bướu TP Hồ Chí Minh đến một số bệnh viện tỉnh đã có các máy móc, thiết bị tiên tiến của thế giới và khu vực. Theo Vụ Trang thiết bị (TTB) và Công trình y tế (Bộ Y tế), đến nay, cả nước có gần 170 máy chụp cắt lớp vi tính, hơn 30 hệ thống máy cộng hưởng từ (MRI), hàng chục máy chụp mạch, gia tốc tuyến tính, máy tán sỏi ngoài cơ thể, xạ trị gia tốc, dao mổ ga-ma, xét nghiệm sinh hóa đa chức năng... TTBYT ngày càng hỗ trợ đắc lực các thầy thuốc trong việc chẩn đoán, điều trị có hiệu quả các loại bệnh tật phức tạp, hiểm nghèo như tim mạch, ghép tạng, đa chấn thương, ung thư, kỹ thuật cấp cứu, hồi sức, góp phần giúp người bệnh không phải ra nước ngoài chạy chữa, tốn kém tài chính. Thực tế cho thấy, do trình độ chế tạo, sản xuất TTBYT của nước ta còn thấp kém, cho nên hơn 70% số TTB trong các cơ sở y tế phải mua của nước ngoài.

Ngành công nghiệp sản xuất TTBYT ở nước ta còn nhỏ bé, một số ít doanh nghiệp vừa và nhỏ thời gian qua dù đã có sự nỗ lực, cố gắng nhưng mới dừng lại sản xuất được các thiết bị, dụng cụ đơn giản, thông thường như: nồi hấp tiệt trùng, giường nằm người bệnh, cáng cấp cứu, găng tay cao-su, tủ cá nhân. Gần đây, Công ty nhựa y tế Hà Nội (MEDIPLAST) đầu tư lắp đặt dây chuyền sản xuất theo công nghệ tiên tiến của Nhật Bản, làm ra các mặt hàng: dây truyền dịch, bơm tiêm tự khóa, bơm tiêm tiệt trùng. Một vài đơn vị khoa học bước đầu nghiên cứu, chế tạo được hệ thống trị liệu la-de, máy tán sỏi ngoài cơ thể, lò đốt rác thải y tế... Cũng vì lẽ đó, các nhà quản lý các cơ sở y tế thiếu "mặn mà" với các TTBYT trong nước. Không ít giám đốc một số bệnh viện khu vực Hà Nội, khi được hỏi, đều có chung câu trả lời: Chất lượng TTB sản xuất trong nước còn thấp, độ bền hạn chế, cho nên "ngại" dùng. Cái gì trong nước chưa làm được thì phải nhập khẩu, song mua TTB mới của các hãng nước ngoài đắt tiền đã đành, việc sửa chữa, bảo trì, bảo dưỡng lại phụ thuộc vào họ.

Một cán bộ có trách nhiệm của Vụ Trang thiết bị và Công trình y tế cho biết: Hằng năm, kinh phí chi cho bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT khá lớn. Chẳng hạn, đối với các loại máy thường quy: xét nghiệm sinh hóa, huyết học, máy gây mê, máy thở là từ mười triệu đến 50 - 60 triệu đồng/chiếc/năm; còn như các máy chụp cắt lớp, máy cộng hưởng từ, máy gia tốc tuyến tính phải từ 40 nghìn USD đến 100 nghìn USD/năm... Ðó là chưa nói đến việc không ít bệnh viện khai thác, sử dụng công suất máy thấp, thậm chí mua thiết bị đắt tiền về nhưng để "đắp chiếu", gây lãng phí tiền của Nhà nước và nhân dân.

Ðể thúc đẩy sản xuất TTBYT phát triển

Có thể nói, TTBYT ở nước ta còn thiếu trầm trọng, nhất là y tế tuyến huyện chưa đồng bộ và lạc hậu so với các nước trong khu vực. Phần lớn TTBYT đang sử dụng trong các bệnh viện được sản xuất cách đây 15 - 20 năm, chưa được định kỳ kiểm chuẩn, bảo dưỡng và sửa chữa, nhiều địa phương không có kinh phí để mua sắm vật tư tiêu hao. Mặt khác, năng lực của đội ngũ cán bộ kỹ thuật  khai thác TTBYT còn hạn chế, chưa đáp ứng kịp những đổi mới về kỹ thuật và công nghệ chuyên ngành, trong khi chất lượng đào tạo, bố trí sử dụng nhân lực chuyên sâu về kỹ thuật thiết bị y tế còn bất cập so với nhu cầu hoạt động của ngành. Chủng loại nghèo nàn, chất lượng sản phẩm TTBYT sản xuất trong nước chưa cao, công tác quản lý xuất nhập khẩu, kinh doanh TTBYT trên thị trường còn yếu kém... là những vấn đề cần được xã hội và ngành y tế quan tâm.

Mục tiêu của chính sách quốc gia về TTBYT giai đoạn 2002-2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 130/2002/QÐ-TTg (ngày 4-10-2002) là, phấn đấu đến năm 2010, đạt trình độ kỹ thuật về TTBYT ngang tầm các nước trung bình tiên tiến trong khu vực. Trong đó, tiếp tục mở rộng sản xuất TTBYT thông dụng bảo đảm cung cấp 40% nhu cầu của ngành vào năm 2005 và 60% vào năm 2010, đẩy mạnh liên doanh sản xuất thiết bị y tế công nghệ cao (10 cơ sở liên doanh năm 2010), nhằm hạn chế dần tình trạng nhập khẩu. Rõ ràng, đây là một khó khăn, thách thức, bởi nghiêm túc đánh giá thì chỉ tiêu 40% số TTBYT thông dụng sản xuất trong nước vào năm 2005 đã không thực hiện được.

Ngày 21-1-2005, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 18/2005/QÐ-TTg phê duyệt đề án "Nghiên cứu, chế tạo và sản xuất TTBYT đến năm 2010", mở ra   cơ hội mới cho ngành công nghiệp TTBYT nước ta phát triển trong toàn cảnh "lộ trình" gia nhập WTO đang đến gần. Tuy nhiên, để triển khai, thực hiện quyết định này đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các bộ, ngành: khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, y tế, công nghiệp trong một chương trình tổng thể nghiên cứu, chế tạo và sản xuất TTBYT. Ðiều đó cần nhiều giải pháp đồng bộ nhưng trước hết tập trung xây dựng chương trình, kế hoạch đầu tư chiều sâu, đổi mới kỹ thuật công nghệ sản xuất TTBYT trong nước có ưu thế.

Muốn vậy, cần tạo môi trường, cơ chế thuận lợi cho sự hợp tác, liên kết giữa cơ sở nghiên cứu khoa học - công nghệ thuộc các ngành, địa phương với các doanh nghiệp tham gia chế tạo, sản xuất TTBYT trong nước, khắc phục tư tưởng "sính" hàng ngoại; giảm dần nhập khẩu, làm sao đến năm 2010 chỉ nhập khẩu những máy, thiết bị công nghệ cao mà trong nước chưa sản xuất được. TTBYT là mặt hàng chuyên dụng đòi hỏi tính khoa học, độ chính xác và an toàn cao, dĩ nhiên giá thành đắt (máy chụp cắt lớp, chụp mạch, xạ trị cô-ban... có giá hàng chục tỷ đồng/chiếc). Cho nên, việc đầu tư vốn phát triển TTBYT phải có trọng tâm, trọng điểm, trong đó dành sự ưu tiên cho các khu vực, vùng miền còn nhiều khó khăn như Tây Bắc, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long. Trên cơ sở kết hợp các nguồn vốn Nhà nước, viện trợ của các tổ chức quốc tế và khơi dậy phong trào xã hội hóa công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân; tránh tình trạng mua sắm TTBYT tràn lan, tốn ngoại tệ nhưng khai thác kém hiệu quả.

Lâu nay, hoạt động nghiên cứu, chế tạo; công tác kiểm chuẩn, bảo trì, bảo dưỡng TTBYT ở nước ta còn yếu, thiếu sự quan tâm lĩnh vực đào tạo  chuyên ngành và chính sách sử dụng cán bộ kỹ thuật. Theo đồng chí Dương Văn Tỉnh, Vụ trưởng Trang thiết bị và Công trình y tế, hiện nay, cán bộ chuyên ngành TTBYT ở các tuyến thiếu và yếu. Thống kê chưa đầy đủ, một bệnh viện tuyến T.Ư, Viện Nghiên cứu và Trường đại học Y chỉ có năm kỹ sư và ba kỹ thuật viên. Còn tuyến tỉnh và huyện, kỹ sư chuyên ngành TTBYT rất thiếu. Bởi vậy, cần mở rộng, nâng cấp chương trình đào tạo kỹ sư, kỹ thuật viên điện tử y sinh học và công nhân kỹ thuật; đồng thời có cơ chế, chính sách phù hợp trong tuyển dụng, bố trí công tác đối với đội ngũ cán bộ này tại các cơ sở y tế (năm 2004 và 2005, trong số gần 140 sinh viên tốt nghiệp Khoa Ðiện tử, Trường đại học Bách khoa Hà Nội chỉ có 20 người về làm việc trong ngành y tế). Tổ chức tốt mạng lưới hoạt động của chuyên ngành TTBYT, điều quan trọng và cần thiết là tại bệnh viện các tuyến hình thành được phòng vật tư - kỹ thuật, thiết bị y tế hoặc bố trí cán bộ có chuyên môn theo dõi công tác này.

Ngành y tế cần có kế hoạch xây dựng, củng cố các trung tâm sửa chữa, bảo dưỡng các TTBYT tại các khu vực trong cả nước, tránh tình trạng lệ thuộc và bị động như hiện nay trong công tác kiểm chuẩn, bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT...

Có thể bạn quan tâm