Thu này, về Bắc Mê - Bút ký của Cao Xuân Thái

Cây cầu cứng dài hơn 100 mét vươn sang bản Sáp (Yên Phú) là địa phận của huyện Bắc Mê cũ. Từ đầu cầu phía nam, vượt qua con dốc dài là hướng Nà Hang (Tuyên Quang). Căng (nhà tù) Bắc Mê  tựa lưng vào đỉnh núi Pu Luông, Phia Khao âm u dưới tán rừng tếch cổ thụ, phía dưới có con suối Pác Mìa từ hướng Yên Cường đổ về. Căng Bắc Mê tĩnh lặng, bí hiểm, gợi cho thế hệ trẻ hôm nay nhiều suy ngẫm về một thời đất nước dưới nanh vuốt thực dân.

Trung tâm huyện lỵ Bắc Mê hiện giờ nằm ở thôn Nà Nèn (Yên Phú), giao thông thuận tiện, các công trình xây dựng đều đẹp và có chất lượng. Ở Hà Giang ít vùng quê nào được thiên nhiên ưu đãi đến vậy. Hà Giang theo quốc lộ 34 vào Bắc Mê chỉ mất hai giờ đồng hồ. Cuối Lạc Nông, Yên Phú, Phú Nam, Yên Phong, dòng sông Gâm hiện ra, chảy xuôi theo quốc lộ, những cánh rừng già mở ra vô tận, độ che phủ của rừng Bắc Mê đạt hơn 60%, một con số thật lý tưởng.

Tôi đã đọc thiên bút ký "Suối quặng" của nhà văn Nguyễn Tuân, viết vào cuối mùa đông 1966, khi ông lặn lội theo Ðoàn địa chất 35 vào Bắc Mê. Ông mô tả kỹ càng cung đường này, cùng với niềm khát khao của đoàn quân địa chất, những chiến sĩ thầm lặng đi tìm tài nguyên làm giàu cho Tổ quốc. Trong gian khổ, thiếu thốn vất vả ấy, các anh còn làm thơ, mà Nguyễn Tuân đã ghi lại: Nước xanh gõ hòn đá xanh/ Nửa năm nghe tiếng nõ canh cổng trời...

Thiên bút ký không dừng lại ở đó, ông còn mô tả đây là con đường không vui, con đường lưu đầy biệt xứ, nơi thâm sơn cùng cốc và căng Bắc Mê như một quái thai do thực dân Pháp đẻ ra để giam cầm các đồng chí cách mạng của ta bị bắt nhưng chưa kết án. Từ năm 1938 đến 1942, có hai đợt tù chính trị bị giam ở đây, khoảng 300 người... Lần theo thiên bút ký "Suối quặng"  mà tôi biết, dốc "Long bánh chè gối" cách Hà Giang 10 cây số. Ðứng trên đỉnh Tảo Mò phóng mắt ra bốn hướng Bắc Mê thật hùng vĩ, bầu trời chớm thu trong veo, nắng vàng hanh heo se lạnh.

Cầu Bắc Bìu, bắc qua con suối rộng trong vắt (thuộc cây số 18 xã Yên Ðịnh). Ðây là chặng dừng chân đầu tiên của đoàn tù cộng sản trên đường vào căng, bên kia cầu có khoảng 10 ngôi nhà của đồng bào, vài mặt hàng đơn sơ được bày bán.

Cây số 35 thuộc Minh Ngọc đích thực dốc "ngựa trụy thai", đi 3km nữa là đến Nà Cắp thuộc Lạc Nông, đây là chặng thứ hai các chiến sĩ cách mạng dừng chân. Ở bên này cây cầu cứng là làng bản dân tộc Tày Năm Nựng có khoảng 100 nóc nhà dân sinh sống, mùa lúa chín vàng thoảng hương, những cánh rừng tạp giao xanh biếc rì rào trong nắng trưa. Suối Nà Cắp trong veo, vịt, ngan béo mập lặn ngụp tìm mồi. Ở đây đồng bào ít bán vịt, nuôi béo mổ thịt, đồng bào còn thu được chút ít vàng tấm trong bao tử từng con. Ðúng là vào Bắc Mê mới gặp nhiều sự lạ. Chặng thứ ba là từ Nà Cắp vào căng, chốn địa ngục trần gian có đi không trở lại kinh hoàng một thuở. 

Trước năm 1938, khu vực căng Bắc Mê là một đồn binh nhỏ của thực dân Pháp, dựng lên để án ngữ con đường thông giữa ba tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, heo hút hiểm trở rừng thiêng nước độc... Qua thời gian, đồn binh được mở rộng, xây dựng thêm nhà cửa bốt gác, tường rào để giam giữ tù nhân, củng cố thêm nhà bang tá (cơ quan hành chính địa phương). Canh gác ở đây có khoảng một đại đội lính khố xanh và một số cai đội người địa phương, hằng ngày chúng bắt tù nhân lao động khổ sai, đóng gạch, nung vôi, xây cất nhà cửa, bốt gác...

Chế độ hà khắc của nhà tù đế quốc, điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, những bữa ăn đạm bạc chỉ có gạo hẩm, cá mắm... tất cả những điều đó không thể làm các chiến sĩ cộng sản nhụt chí. Các đồng chí đã thành lập một chi bộ đảng trong nhà tù, biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng. Chi bộ Ðảng do đồng chí Trần Văn Hiệu làm bí thư đã hoạt động có hiệu quả, lãnh đạo anh chị em đấu tranh chống khủng bố, đòi cải thiện đời sống... khiến thực dân Pháp phải kiêng nể. Vào dịp lễ Tết, các đồng chí đều tổ chức biểu diễn văn nghệ rất vui...

Nhà văn Nguyên Hồng lúc đó là đoàn viên thanh niên phản đế cũng bị giam cầm ở đây. Nhà văn đã viết tiểu thuyết "Ðàn chim non" lúc đang ốm nặng, phải nằm đọc cho đồng chí Trần Các (nguyên Giám đốc công ty Xuất nhập khẩu sách báo, Bộ Văn hóa ghi hộ). Viết xong, ông cất giấu lên mái nhà. Bọn cai ngục biết, liền gọi nhà văn lên doạ nạt: "Anh đã viết truyện truyền bá tư tưởng đen tối". Nguyên Hồng trả lời: "Ðây là việc truyền bá tư tưởng tiến bộ cho nhân dân Việt Nam, chứ không phải tư tưởng đen tối". Nguyên Hồng là nhà văn có cá tính và dễ xúc động, nhưng trước kẻ thù ông tỏ ra cứng rắn khúc triết và sâu sắc. Từ đó bọn cai ngục nhìn nhà văn với con mắt thiện cảm, kính trọng...

Hoạt động của chi bộ nhà tù đã có ảnh hướng lớn đến phong trào cách mạng ở những địa bàn chung quanh, một số làng bản đã trở thành cơ sở hoạt động của Ðảng bộ địa phương trong những năm 1940 - 1945 như bản Loáng thuộc xã Ðường Âm...

Sang năm 1943, trước tình hình cách mạng sôi động trong toàn quốc và cuộc đấu tranh quyết liệt của anh chị em tù chính trị ở căng Bắc Mê, thực dân Pháp lo sợ, phải chuyển số tù ở Bắc Mê đi giam giữ nơi khác. Các đồng chí Xuân Thủy, Lê Giản, Nguyễn Văn Ngọc, Trần Văn Hiệu bị đày đi Ma-đa-gát-xca. Các đồng chí Trần Các, nhà văn Nguyên Hồng và một số đồng chí khác bị đày sang chợ Chu (Thái Nguyên).

Từ năm 1943 trở đi, căng Bắc Mê trở lại là một đồn biên phòng, cho tới tổng khởi nghĩa Tháng 8-1945...

Nhớ lại, cách đây gần 10 năm, nhân một chuyến vào Bắc Mê công tác, lúc bấy giờ anh Nông Văn Khoác (dân tộc Tày) giữ chức vụ Chủ tịch UBND huyện, biết tôi đang quan tâm đến Bắc Mê, đặc biệt di tích lịch sử cách mạng căng Bắc Mê mới được Nhà nước xếp hạng, làm việc ở Yên Cường xong, anh Khoác và tôi ra Bản Sáp (Yên Phú) để tìm gặp một nhân chứng đặc biệt và thú vị có hiểu biết về tình hình căng Bắc Mê vào những năm 1940.

Con đường liên thôn từ trung tâm huyện vào bản Sáp, mặc dù là đường cấp phối nhưng dễ đi, ánh nắng đầu thu vàng rợi như mật ong trải mênh mang trên một vùng sông núi. Ði chừng năm cây số thì đến trung tâm bản, đây là vùng quê thuần Tày, có 106 hộ, ruộng cấy hai vụ, có rừng già, suối mát thuận tiện cho việc canh tác lúa ruộng; 100% nhà ở của đồng bào lợp ngói.

Chúng tôi gặp ông Nông Văn Doanh tại nhà riêng. Mặc dù đã 74 tuổi, nhưng ông còn khỏe, trí nhớ tốt, gương mặt phúc hậu. Tôi hỏi ông Doanh, có biết nhà văn Nguyên Hồng không? Ông nói thật tiếc, hồi đó trẻ quá chưa ý thức, và sách báo để đọc không có, sau này đọc sách mới biết Nguyên Hồng là nhà văn lớn, ông tự hào là quê hương Bắc Mê đã tạo nguồn cảm hứng để nhà văn cho ra đời tiểu thuyết "Ðàn chim non". Ông nói một cách trang trọng: "Ở khía cạnh nào đó, nhà văn còn là đại diện của nhân dân bởi vì nhà văn nào cũng quý trọng dân tộc và Tổ quốc mình. Văn chương càng chứa chan tình yêu Tổ quốc và dân tộc bao nhiêu thì càng được đồng bào các dân tộc đánh giá cao bấy nhiêu".

Vào thời kỳ dựng nước và giữ nước, Bắc Mê mang nhiều tên gọi khác nhau, nhưng đều thuộc một phần của châu Vị Xuyên (trấn Tuyên Quang của Nhà nước Ðại Việt). Ngày 20-8-1891, tỉnh Hà Giang được thành lập, Bắc Mê là hai trong năm tổng của châu Vị Xuyên với tên gọi là tổng Yên Phú và tổng Yên Ðịnh; khi cách mạng Tháng 8-1945 thành công, tiểu khu Bắc Mê thành lập, thuộc châu Vị Xuyên.

Ngày 1-1-1984, huyện Bắc Mê được thành lập có 13 đơn vị hành chính cấp xã, 15 dân tộc anh em chung sống đoàn kết. Tiềm năng lớn nhất của Bắc Mê là kinh tế nông, lâm nghiệp, chăn nuôi đại gia súc, kết hợp với nguồn lợi thủy sản. Nếu năm 1984, sản lượng lương thực toàn huyện đạt 7.525 tấn, thì nay đã hơn 16 nghìn tấn, bình quân hơn 400 kg/người/năm. Ðầu năm 2005 huyện đã đạt chuẩn quốc gia về phổ cập THCS. Về hạ tầng điện, đường, trường, trạm, phục vụ đời sống nhân dân, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển đã được huyện đầu tư, chăm lo...

Trong tương lai Bắc Mê còn có thế mạnh về du lịch, ngoài điểm căng Bắc Mê là địa chỉ về nguồn rất có ý nghĩa với thế hệ trẻ, còn là du lịch sinh thái lòng hồ thủy điện Nà Hang vươn dài đến Ba Bể (Bắc Cạn). Di tích Nà Chảo, Ðán Cúm thuộc xã Yên Cường, cái nôi của người Việt Cổ, cách thời gian chúng ta sống gần 10 nghìn năm, còn phải kể đến bãi đá cảnh thuộc xã Thượng Tân với hơn 100 bức tượng đá do kiến tạo của tự nhiên để lại cũng là điểm mời gọi du khách...

Tôi đang đứng bên bờ bắc dòng sông Gâm nổi tiếng, một biểu tượng sức sống của quê hương. Khi mặt trời đang đem chút ánh sáng cuối cùng cất giữ vào đêm tối, tiếng sóng dội ì ầm không dứt, đâu đó trên những triền núi cao đã bập bùng ánh lửa...

Không hiểu tại sao lúc này tôi cứ day dứt mãi về câu chuyện tình bi thương mà anh Ðức Sinh, bác sĩ dân tộc Tày quê ở đây kể lại cho tôi. Anh Sinh cũng đã mấy lần rủ tôi vào Phú Nam, Yên Phong ăn thịt vịt hấp măng chua, uống rượu mầm lúa nếp, nghe các cụ già kể lại mối tình ấy để rồi tìm cách giải mã cho một lời nguyền...

Chuyện kể rằng, ở bản Ðuốc (Yên Phong) có một chàng trai Tày khôi ngô tuấn tú đem lòng yêu say đắm cô gái Tày bản Tính (Phú Nam). Dòng sông Gâm chảy giữa chia đôi hai bản, có bóng núi Pù Luông bốn mùa mây trắng soi bóng, những mái nhà sàn bình yên. Bên rừng cọ, rừng trầu, là vựa lúa nên Yên Phong, Phú Nam là vùng quê giàu có. Ðêm đêm chàng trai đem cây đàn tính ra gảy. Giai điệu tâm hồn được tiếng sóng và  gió trời mang lời yêu thương đến cô gái. Cô gái cũng rất yêu thương chàng trai đa cảm này. Họ hẹn hò, xong mùa lúa chín sẽ làm lễ cưới... Nhưng mối tình của họ bị ngăn cấm và dẫn đến tan vỡ... Chàng trai đau đớn bèn bẻ gãy cây đàn, bầu đàn ném sang phía bản Tính; còn cần đàn ném về bản Luốc, và thề với trời đất rằng, khi nào bầu đàn và cần đàn liền lại thì trai gái Yên Phong và Phú Nam mới lấy được nhau...

Lời nguyền ấy như một định mệnh. Hôn nhân của trai gái hai địa phương này đều dẫn đến một kết cục tan vỡ, rất khó lý giải vì sao... Tôi cũng thật tình chia sẻ về những mối tình bi thương ấy. Và nhận ra một điều, ở cõi nhân gian này tất cả những mâu thuẫn, tranh chấp kể cả hủ tục đều có thể giải quyết được miễn là lòng người đừng hẹp, cái nhìn phải vượt qua ngọn núi quê mình, lòng tốt chỉ có một, còn thói hư tật xấu thì dăm bảy ngả... Lòng tốt phải học, còn tật xấu phải tránh...

Bẵng đi một thời gian, gặp lại nhau, anh Ðức Sinh kể: Không thể để tình trạng hôn nhân của nam nữ bản Tính, bản Luốc cứ tan vỡ như thế được. Ðảng ủy, Mặt trận, thanh niên, phụ nữ, Hội cựu chiến binh... đã nhiều lần họp với bà con Yên Phong, Phú Nam, xây dựng quy ước, hương ước làng xã. Trong mô hình toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, học tập trao đổi về Luật Hôn nhân và gia đình... Từng bước, từng bước, mưa dầm thấm lâu. Nhân tố tích cực trong cuộc vận động là các già làng trưởng bản. Ðến nay tình trạng ly hôn của trai gái Yên Phong và Phú Nam đã chấm dứt... Ðêm đêm tiếng đàn tính và lời ca về tình đất tình người lại cất lên làm rạo rực cả một vùng quê hương... anh Ðức Sinh cười: Thế là lời nguyền đã được giải...

Từ ngày thành lập đến nay, Bắc Mê đã hơn 20 năm xây dựng và phát triển. Vùng đất này xứng đáng là một trong những vùng kinh tế động lực của miền cực bắc địa đầu Tổ quốc. Tôi mang trong lòng tuổi 20 của một vùng quê hùng vĩ tươi đẹp về xuôi, có tiếng sóng ì ầm của sông Gâm vỗ về như nhắn nhủ hẹn ước một ngày trở lại.

Có thể bạn quan tâm