1. Thơ chống Mỹ, cứu nước có cốt cách và tầm vóc của một nền thơ lớn. Trước hết, đó là tính quần chúng sâu rộng - một đặc điểm được hình thành dần trong thơ kháng chiến chống thực dân Pháp và cho đến chặng đường này đã thực sự tạo nên một đời sống thơ ca mang tính cộng đồng rộng lớn. Ðây có lẽ là một hiện tượng đẹp trong đời sống thơ ca thế kỷ 20. Bên cạnh đội ngũ các nhà thơ thuộc các thế hệ nối tiếp và sát cánh dưới ngọn cờ chống đế quốc Mỹ là rất nhiều những cây bút trẻ, những người bám trụ trong thực tế chiến đấu và sản xuất, lấy những xúc cảm thực tế hằng ngày của mình mà viết nên thơ. Thơ được viết dọc đường hành quân, dưới hầm, giữa rừng, trong bom đạn, thơ cùng những chiến sĩ "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước"... Thơ như ngọn lửa được thắp lên, như một thứ năng lượng tinh thần chia đều cho mọi người. Nhà văn Nga Tkat-sốp đã từng ngạc nhiên về sinh hoạt thơ ca phong phú của nhân dân ta trong những ngày đánh Mỹ: "Trong các buổi hội họp và những tối liên hoan, người ta nhất thiết phải đọc những bài thơ họ làm, cho dù đó là những câu thơ đơn giản và thô sơ, nhưng bao giờ cũng biểu lộ một tính cách đặc biệt cũng như nhân sinh quan của họ. Tôi nhớ những tờ báo tường mà tôi đã thấy ở nhà tập thể của thợ mỏ Cẩm Phả và trụ sở Ban chủ nhiệm Hợp tác xã đánh cá Nghi Tàm, trong hầm tránh đạn của các chiến sĩ ở vĩ tuyến 17 và ở phòng trực sân bay quân sự gần Hà Nội..., đâu đâu cũng gồm toàn những thơ... Không, đó đâu phải là cái trò sính sáng tác rất phổ biến hiện nay mà là sự biểu hiện của một niềm say mê chân thành và yêu mến thơ thực sự" (1). Có thể nói, thơ chống Mỹ đã xây dựng nên một hình thái đặc biệt của sáng tạo và tiếp nhận thơ ca - một dấu ấn đặc thù chưa từng có trong lịch sử thơ ca dân tộc, một hiện tượng có lẽ khó còn có thể lặp lại. Trước khi nói đến những giá trị tinh thần và thẩm mỹ, cần ghi nhận hiện tượng lớn này trong đời sống thơ ca hiện đại.
2. Văn học nước nhà từ 1945 đã khai sinh một mô hình thơ ca mới, với một kiểu nhà thơ mới hoàn toàn khác biệt với giai đoạn trước. Cái tôi trữ tình công dân là bản chất của chủ thể sáng tạo thơ ca thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và mười năm xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cái tôi trữ tình của giai đoạn thơ chống Mỹ, cứu nước là sự tiếp nối cái tôi trữ tình những giai đoạn trước và phát huy trong hoàn cảnh mới. Ðây là giai đoạn phát triển đến đỉnh điểm cái tôi trữ tình công dân. Nhà thơ và nhân dân nhập thành một thể thống nhất - "Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi - Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu" (Xuân Diệu) để trở thành cái ta cộng đồng. Ðó là cái Ta - Dân tộc nói cùng nhân loại, cái Ta - Thời đại nói với Lịch sử và Tương lai, cái Ta thế hệ tuổi trẻ đánh Mỹ nói cùng đồng đội, suy nghĩ về nhân dân, Tổ quốc. Mỗi nhà thơ, mỗi bài thơ đều thể hiện ý thức trách nhiệm với nhân dân, chủ động dùng thơ như một vũ khí tinh thần trong cuộc chiến đấu:
Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy
Bên những dũng sĩ diệt xe tăng
ngoài đồng và hạ trực thăng rơi
(Chế Lan Viên)
Thơ cũng trở thành biên niên sử của thời đại và thế hệ:
Không có sách chúng tôi làm ra sách
Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình
(Hữu Thỉnh)
Thơ chống Mỹ, cứu nước là một nền thơ trữ tình - sử thi.
Nói đến chất sử thi trong thơ chống Mỹ, cứu nước cần nói đến bản chất tinh thần của nó. Yêu nước và anh hùng là truyền thống của dân tộc. Chính với những đặc điểm này, tinh thần yêu nước và hành động anh hùng của thời đại, thông qua sự thể hiện của phương thức trữ tình sử thi, đã mang một tầm vóc khái quát: chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng.
Ðặt mười năm thơ chống Mỹ, cứu nước trong tiến trình thơ thế kỷ, quan sát những đặc điểm nội dung và nghệ thuật của nó, có thể thấy mười năm này đã có những đóng góp to lớn trong việc mở rộng và mài sắc khả năng tư duy nghệ thuật của thơ.
Thơ bám sát từng ngày, từng tháng, từng sự kiện để có những bài thơ thời sự - kịp thời và trong số những bài thơ "cập nhật" ấy, không ít bài đã có sức đọng lại với thời gian - chẳng hạn Chào Xuân 1967, Người con gái Việt Nam của Tố Hữu, Sao chiến thắng của Chế Lan Viên, Dáng đứng Việt Nam của Lê Anh Xuân... Tính chính luận và chất trí tuệ đậm nét cũng là những phẩm chất của thơ chống Mỹ, nới rộng đường biên quen thuộc của tư duy trữ tình. Tăng cường tính chính luận là một nhu cầu nội tại, thể hiện khát vọng chiến đấu trực tiếp của thơ. Thơ vốn quen tâm sự, giãi bày bây giờ thấy cần phải huy động sự sắc bén của trí tuệ để phân tích, lý giải, kêu gọi, chỉ ra một phương hướng hành động. Với giọng thơ chính luận, thơ đã mở ra cả một thế giới nhận thức, một trận địa tư tưởng trong thế giới trữ tình. Chế Lan Viên dành hẳn một bài thơ dài - Phản diễn ca hay phản diện ca về học thuyết Ních-xơn tập trung phân tích hoàn cảnh ra đời của học thuyết ấy, tội ác và sự tiêu vong tất yếu của nó. Phạm Tiến Duật trăn trở với những câu hỏi đặt ra cho dân tộc và thế hệ mình: Ði trong rừng - Câu hỏi lớn như gió rừng thổi mãi... Trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Ðiềm mở ra "cuộc đối thoại thảo ngay" - một cuộc tranh luận gay gắt giữa hai quan niệm, hai lối sống của tuổi trẻ miền nam... Phương thức chính luận mở ra nhiều bình diện, đi sâu vào nhiều khía cạnh của nội dung lịch sử - dân tộc, thời đại, tạo nên tính thuyết phục trí tuệ của thơ ca, mở rộng những khả năng mới cho thơ trữ tình.
Thơ chống Mỹ, cứu nước có dáng dấp một dàn đồng ca lớn. Tính chất đồng ca này cũng cần được nhìn nhận như một đặc điểm, hơn là một nhược điểm khi ta hiểu rằng đó là một nền thơ được sinh thành trong một bối cảnh tinh thần đặc biệt, vào "những năm đất nước có chung tâm hồn, có chung khuôn mặt". Cũng phải nói thêm rằng, khái quát về đặc điểm đồng ca của thơ chống Mỹ, cứu nước là một khái quát không sai, nhưng không thật đầy đủ. Thơ chống Mỹ, cứu nước là một nền thơ thống nhất của những phong cách đa dạng và chính sự đa dạng này tạo nên tính đa âm sắc của thơ. Trong hòa âm chung của cả nền thơ, người ta nhận ra nhiều chất giọng khác nhau: Tố Hữu khác với Chế Lan Viên, Xuân Diệu khác với Huy Cận, Nguyễn Khoa Ðiềm khác với Lê Anh Xuân, Hữu Thỉnh khác với Nguyễn Khoa Ðiềm, Phạm Tiến Duật khác Nguyễn Duy hoặc Thanh Thảo... không có sự đa dạng về phong cách và giọng điệu như thế, thơ chống Mỹ, cứu nước không thể có được tầm vóc và sự phong phú, không thể có được sức mạnh nghệ thuật như nó đã từng thể hiện.
3. Quá trình mười năm thơ chống Mỹ, cứu nước là một thực tiễn thơ ca sinh động, có kế tiếp, bồi đắp và phát triển - cả về mặt đội ngũ sáng tác cũng như phẩm chất của cả nền thơ. Trong thơ chống Mỹ, đặc biệt là nửa sau cuộc kháng chiến, sự xuất hiện một lớp nhà thơ trẻ, phần lớn là những nhà thơ mặc áo lính đã thật sự tiếp thêm sinh lực cho cả nền thơ.
Thơ "sử thi" mạnh về khái quát, chính luận, tổng hợp nên không khỏi yếu đi sự tiếp xúc trực quan, trực cảm với các hiện tượng đời sống. Các nhà thơ trẻ đã làm phong phú và tươi mới xúc cảm của cả nền thơ nhờ những chi tiết đời thường sinh động, những cảm nhận trẻ trung mà sâu sắc về thực tế kháng chiến và đóng góp vào nền thơ nhiều tác phẩm có giá trị. Cũng chính họ sẽ còn đóng một vai trò quan trọng, như một chiếc cầu nối vào chặng đường thơ tiếp theo, sau 1975.
4. So với Thơ mới và thơ ca kháng chiến chống thực dân Pháp, nền thơ chống Mỹ, cứu nước đã làm phong phú rất nhiều khả năng biểu hiện của thơ ca - từ việc sử dụng linh hoạt các thể thơ, cho đến cấu trúc thơ, ngôn ngữ thơ... Thể trường ca với nhiều thành tựu đỉnh cao là một đóng góp quan trọng của thơ chống Mỹ, cứu nước vào kinh nghiệm thể loại. Dù trong thơ chống Mỹ, cứu nước, người ta không tìm thấy nhiều những cách tân đột biến và độc đáo, thì cũng không thể nói rằng thơ chống Mỹ, cứu nước ít chú ý đến những tìm tòi hình thức. Thật ra, và nói đúng hơn, nó chỉ tìm tòi những hình thức, những phương thức diễn đạt cần thiết và phù hợp với nó.
Thơ chống Mỹ, cứu nước đã tạo được một cái nền sâu rộng và không ít những đỉnh cao thành tựu. Những giá trị văn hóa, tinh thần và nghệ thuật được kết tinh trong giai đoạn lịch sử hào hùng này sẽ còn được lưu giữ và phát huy trong dòng thơ đương đại.
-------------
(1) Dẫn theo cuốn Văn học Việt Nam chống Mỹ, cứu nước. Nxb Khoa học xã hội, 1978.