Trả lời: Pháp lệnh số 01/2002/PL-UBTVQH11 ngày 4-10-2002 của ủy ban Thường vụ Quốc hội sửa đổi Điều 22 và Điều 23 của Pháp lệnh Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng quy định: Người có công giúp đỡ cách mạng được hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước là người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm và được Nhà nước tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước”, Huân chương Kháng chiến, Huy chương Kháng chiến.
Hướng dẫn quy định trên, Điều 1 Nghị định số 69/2003/NĐ-CP ngày 13-6-2003 của Chính phủ nêu người có công giúp đỡ cách mạng bao gồm:
- Người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm thời kỳ trước ngày 19-8-1945, được Nhà nước tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc “Bằng có công với nước”.
- Người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm thời kỳ kháng chiến giải phóng dân tộc, từ ngày 19-8-1945 đến ngày 30-4-1975 được Nhà nước tặng Huân chương Kháng chiến.
- Người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm thời kỳ kháng chiến giải phóng dân tộc, từ ngày 19-8-1945 đến ngày 30-4-1975 được Nhà nước tặng Huy chương Kháng chiến.
Cụ thể hơn, Thông tư số 18/2003/TT-BLĐTBXH ngày 15-7-2003 hướng dẫn chế độ trợ cấp đối với người có công giúp đỡ cách mạng, quy định những người sau đây có đủ điều kiện công nhận là người có công giúp đỡ cách mạng:
- Người có thành tích giúp đỡ cách mạng trước ngày 19-8-1945 đã được Nhà nước tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc “Bằng có công với nước”.
- Người có thành tích giúp đỡ cách mạng trong kháng chiến đã được Nhà nước tặng Huân chương Kháng chiến, bao gồm người đã được Nhà nước tặng Huân chương Kháng chiến; một trong những người có tên được ghi trong danh sách của gia đình được Nhà nước tặng Huân chương Kháng chiến.
- Người có thành tích giúp đỡ cách mạng trong kháng chiến đã được Nhà nước tặng Huy chương Kháng chiến.
Như vậy, trường hợp của ông hỏi, nếu người có công giúp đỡ cách mạng chỉ được trao “Bằng khen” mà không được Nhà nước tặng Kỷ niệm chương “Tổ quốc ghi công”, “Bằng có công với nước” hoặc Huân chương Kháng chiến, Huy chương Kháng chiến như đã nêu trên thì không được hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng theo quy định tại Nghị định số 210/2004/NĐ-CP ngày 20-12-2004 của Chính phủ về chế độ trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng.
-------------------
Đối tượng được vay vốn từ quỹ quốc gia về việc làm
Hỏi: Những đối tượng nào được vay vốn Quỹ quốc gia về việc làm?
Trả lời: Ngày 5-4-2005, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định 71/2005/QĐ-TTg về cơ chế quản lý, điều hành vốn cho vay của Quỹ quốc gia về việc làm, trong đó quy định đối tượng cho vay từ nguồn Quỹ trên là:
- Hộ kinh doanh cá thể; tổ hợp sản xuất; hợp tác xã hoạt động theo Luật hợp tác xã; cơ sở sản xuất-kinh doanh của người tàn tật; doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động theo Luật doanh nghiệp; chủ trang trại; Trung tâm giáo dục Lao động-Xã hội (gọi chung là cơ sở sản xuất, kinh doanh).
- Hộ gia đình.
Các đối tượng vay vốn khi có nhu cầu vay vốn phải xây dựng dự án, lập hồ sơ vay vốn theo hướng dẫn của cơ quan Lao động-Thương binh và Xã hội hoặc tổ chức thực hiện Chương trình giải quyết việc làm ở địa phương.
Cơ quan Lao động-Thương binh và Xã hội hoặc tổ chức thực hiện Chương trình giải quyết việc làm ở địa phương chủ trì phối hợp với Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội hoặc phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách (gọi chung là Ngân hàng Chính sách xã hội địa phương) tổ chức thẩm định, trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt dự án.
Chủ tịch UBND tỉnh và thủ trưởng cơ quan thực hiện chương trình, giải quyết việc làm các cấp ra quyết định phê duyệt các dự án vay vốn. Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội chủ trì cùng Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm hướng dẫn việc xây dựng dự án, phân cấp thẩm định và phê duyệt dự án; quy định rõ thời hạn các cơ quan thẩm định, phê duyệt dự án phải hoàn thành công việc và trả lời đối tượng vay vốn.
-------------------
Khi nào kỷ luật cảnh cáo đối với cán bộ, công chức?
Hỏi: Đề nghị cho biết trường hợp cán bộ, công chức đã bị kỷ luật khiển trách do cấp phát, sử dụng văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp, nay lại tái phạm khuyết điểm trên thì bị cơ quan kỷ luật cảnh cáo có đúng không? Hình thức kỷ luật cảnh cáo còn áp dụng với những trường hợp nào?
Trả lời: Theo Thông tư số 03/2006/TT-BNV ngày 3-2-2006 thì hình thức kỷ luật cảnh cáo áp dụng trong các trường hợp: Cán bộ, công chức (CBCC) có các vi phạm nói tại điều 21 của NĐ số 35/2005/NĐ-CP, bao gồm cả trường hợp CBCC không chấp hành sự điều động, phân công công tác của cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền; CBCC gây bè phái, làm mất đoàn kết gây ảnh hưởng đến việc hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị; CBCC vi phạm kỷ luật, tự ý bỏ việc hai lần (tổng số hai lần không quá 6 ngày); vi phạm phẩm chất đạo đức trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ; vi phạm lần đầu quy định những việc CBCC không được làm của Pháp lệnh CBCC nhưng đã nhận thấy được khuyết điểm, không gây hậu quả nghiêm trọng và có phương hướng khắc phục.
CBCC vi phạm việc cấp phát, sử dụng văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp để lập hồ sơ dự thi tuyển, xét tuyển, học tập nâng cao trình độ văn hoá, lý luận, nghiệp vụ hoặc thi nâng ngạch; để hoàn thiện tiêu chuẩn bổ nhiệm vào chức vụ lãnh đạo.
CBCC được giao quản lý hồ sơ, cấp phát văn bằng, chứng chỉ do thiếu tinh thần trách nhiệm, làm sai lệch hồ sơ để cấp văn bằng, chứng chỉ cho người không đủ điều kiện; hoặc được giao thẩm quyền xác nhận hồ sơ nhưng đã xác nhận không đúng với văn bản gốc của hồ sơ về văn bằng, chứng chỉ; CBCC đã bị kỷ luật khiển trách do cấp phát, sử dụng văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp nhưng nay tái phạm; CBCC sử dụng văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp để đủ điều kiện đi đào tạo (trung cấp, cao đẳng, đại học, thạc sĩ) ở các cơ sở giáo dục đào tạo.
Như vậy, trường hợp bạn hỏi, cơ quan xử lý kỷ luật cảnh cáo là đúng với quy định.
-------------------
Sở hữu chung trong nhà chung cư
Hỏi: Vợ chồng tôi mới mua một căn hộ chung cư ở khu vực Mỹ Đình, Hà Nội. Xin cho biết: Một số thiết bị dùng chung thuộc sở hữu chung trong nhà chung cư, nếu muốn, các hộ gia đình có thể đem phân chia cho nhau được không?
Trả lời: Bộ luật Dân sự có quy định về sở hữu chung trong nhà chung cư như sau:
- Phần diện tích, trang thiết bị dùng chung trong nhà chung cư thuộc sở hữu chung của tất cả các chủ sở hữu các căn hộ trong nhà đó và không thể phân chia.
- Chủ sở hữu các căn hộ trong nhà chung cư có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc quản lý, sử dụng phần diện tích và thiết bị chung.
- Trong trường hợp nhà chung cư bị tiêu hủy, thì chủ sở hữu các căn hộ trong nhà chung cư có quyền sử dụng diện tích mặt đất của nhà chung cư theo quy định của pháp luật.
Như vậy, đối chiếu với quy định trên, các hộ gia đình khu chung cư vợ, chồng bạn ở không thể đem phân chia cho nhau thiết bị dùng chung thuộc sở hữu chung.