Mối lo ngại về dịch cúm gia cầm đang bao trùm khắp châu Âu sau khi chủng virus H5N1 đã lây lan đến lục địa này từ tuần trước.
Và bây giờ các chuyên gia đang cảnh báo rằng nếu chủng virus này biến đổi và kết hợp với virus cúm ở người, nó có thể sẽ làm chết khoảng 50.000 người riêng ở nước Anh.
Nhưng nếu đại dịch cúm xảy ra, đây sẽ không phải là lần đầu tiên thế giới phải chống chọi với một loại bệnh cúm chết người như vậy.
Trong thế kỷ qua trên thế giới đã ba lần xảy ra đại dịch cúm.
Vậy nhân loại đã đối phó với nó như thế nào và những bài học gì có thể rút ra cho thế hệ ngày nay?
Đại dịch cúm đầu tiên và tồi tệ nhất xảy ra năm 1918. Đó là trận dịch mà người ta thường gọi là đại dịch cúm Tây Ban Nha làm chết khoảng 40 triệu người, nhiều hơn số người chết trong chiến tranh Thế giới thứ I cũng kết thúc cùng thời gian đó.
Giáo sư David Killingray, một nhà sử học tại trường Goldsmith ở Luân Đôn nói, trận dịch cúm đó khiến thế giới hoàn toàn bất ngờ và các cấp chính quyền hồi đó phản ứng rất chậm chạp.
Ông nói: “Các nước hồi đó thực sự chưa được chuẩn bị để đối phó với đại dịch. Họ thật sự không biết đó là một loại virus gây chết người hàng loạt nên họ đã tập trung nghiên cứu đối phó với vi khuẩn. Các loại vaccine được phát triển, nhưng đó chỉ là một giải pháp không có hiệu quả. Con người áp dụng nhiều biện pháp nhưng thường là lợi bất cập hại”.
Các nước như Anh và Mỹ cũng chỉ trông chờ vào các biện pháp cách ly và vệ sinh cá nhân để đối phó với dịch bệnh.
Các trường học và các rạp chiếu phim đã phải đóng cửa để tránh virus lây lan và trong một số trường hợp, những người bị nghi là nhiễm bệnh phải bị đưa vào các bệnh viện cách ly.
Người dân cũng được khuyên nhủ phải rửa tay và tẩy trùng môi trường chung quanh nơi sống.
Nhưng giáo sư Michael Worboys, Giám đốc Trung tâm lịch sử khoa học, kỹ thuật và y học nói: “Các biện pháp này không thật sự thành công, binh lính quân đội di chuyển trên khắp thế giới và khiến bệnh cúm lây lan nhanh chóng”.
Tình hình đã hoàn toàn khác vảo thời điểm xảy ra đại dịch tiếp theo vào năm 1957.
Lúc đó, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã thiết lập một mạng lưới theo dõi dịch bệnh khắp toàn cầu, cho phép đưa ra lời cảnh báo sớm về một đại dịch sắp xảy ra khi virus bắt đầu lây lan qua Đông Nam Á vào cuối tháng 2-1957.
Trong vòng vài tháng các nhà khoa học tại các phòng thí nghiệm của WHO ở Nhật Bản và Singapore đã xác định được chủng virus gây bệnh và ngành y tế khắp thế giới khẩn trương đối phó với đại dịch.
Các loại vaccine được phát triển ở các nước phương tây, nhưng họ đã không thể sản xuất đủ để đáp ứng nhu cầu. Một lần nữa việc cô lập và cách ly lại được sử dụng, nhưng chẳng mấy thành công.
Rốt cuộc đã có một triệu người chết, ít hơn đại dịch năm 1918, nhưng chủ yếu là do chủng virus này yếu hơn virus Tây Ban Nha.
Giáo sư Worboys nói, một sự khác biệt nữa là ở Anh lúc này đã có hệ thống chăm sóc sức khoẻ rộng khắp.
Hệ thống y tế quốc gia đã được thành lập chín năm trước đó, và khác với hồi năm 1918, những người nhiễm bệnh lần này đều có thể đến bác sĩ để được chăm sóc sức khoẻ.
Ông nói: Trước khi có hệ thống y tế quốc gia ở Anh, chỉ có người lao động là nam giới mới có bảo hiểm y tế. Điều này có nghĩa là những người nghèo, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em không được tiếp cận các dịch vụ y tế, vì vậy, tại những vùng nghèo khổ của nước Anh có rất nhiều người chết trong trận đại dịch năm 1918.
Tình hình cũng tương tự như vậy ở Hồng Công năm 1968 khi dịch cúm xuất hiện.
Một lần nữa WHO đưa ra lời cảnh báo sớm, một lần nữa vaccine chống cúm cũng được sản xuất. Nhưng người ta vẫn không sản xuất đủ vaccine và số người chết lên đến một triệu người.
Nhưng điều đó không ngăn cản được các nhà khoa học muốn học hỏi từ kinh nghiệm lịch sử.
Các nhà nghiên cứu tại Trung tâm Ngăn ngừa và quản lý bệnh dịch (CDC) thuộc chính phủ Mỹ, đã tái tạo được virus năm 1918 để có thể hiểu sâu hơn về nó.
Giám đốc CDC, tiến sĩ Julie Gerberding nói, một nghiên cứu như vậy là cần thiết khi mà chúng ta đang cần phải hiểu biết nhiều hơn về các loại virus cúm.
Tiến sĩ Abigail Woods, một giảng viên lịch sử y học tại trường Imperial ở Luân Đôn, đồng ý rằng việc không hiểu biết kinh nghiệm lịch sử sẽ là mối hiểm hoạ.
Ông nói: “Chúng ta có thể học được các bài học từ kinh nghiệm lịch sử. Mặc dù chúng ta không thể áp dụng các biện pháp được thực hiện vào thời đó cho những gì đang xảy ra. Việc phân tích rõ cách thức lây lan của virus và tác dụng, hiệu quả của các loại vaccine vẫn có ích cho chúng ta”.
Tuy nhiên, tiến sĩ Woods nói, khi mà virus cúm 2005 lây lan bởi gia cầm, chính phủ phải tìm hiểu thêm những bài học lịch sử gần đây về dịch cúm.
Ông nói: “Một trận dịch lở mồm long móng cho thấy bệnh dịch có thể lây lan nhanh do sự di chuyển của gia súc. Tôi nghĩ chúng ta giờ đã hiểu hơn về điều này so với một vài năm trước”.
Và cùng với nó, gần 40 năm sau đại dịch cúm gần đây nhất, công nghệ cũng đã có tiến bộ nhiều.
Việc giám sát theo dõi dịch bệnh đã tốt hơn. Mối đe doạ về cúm đã được xác định trước khi nó lây lan từ người sang người, hiện chủng virus H5N1 mới chỉ có thể lây từ gia cầm sang người.
Một hệ thống cảnh báo sớm như vậy cũng có nghĩa là các biện pháp như tiêu huỷ gia cầm có thể được tiến hành nhằm ngăn chặn một đại dịch bùng phát và trên thực tế người ta đang thực hiện công việc này.
WHO tin rằng một đại dịch cúm đã được ngăn chặn năm 1997 khi chính quyền Hông Công đã tiêu huỷ toàn bộ 1,5 triệu con gia cầm sau khi có 18 người nhiễm bệnh cúm.
Khi đưa ra một báo cáo mới đây về tình trạng sẵn sàng đối phó với đại dịch cúm, Tổng giám đốc WHO ở Hồng Công, tiến sĩ Lee Jong-wook, nói: “Trong quá khứ, các đại dịch cúm xảy ra với việc bùng phát hàng loạt trường hợp nhiễm bệnh một lúc khiến thế giới bị bất ngờ hoàn toàn”.
“Còn bây giờ, chúng ta đã được cảnh báo một cách rõ ràng”.
Cảnh báo sớm đã cho phép các nhà khoa học phát triển các loại thuốc giúp điều trị và ngăn ngừa cúm gia cầm, hàng chục triệu liều thuốc Tamiflu đã được các chính phủ trên khắp thế giới đặt hàng sản xuất, nhưng hiệu quả của thuốc này vẫn có phần hạn chế.
Tuy nhiên, giống như các đại dịch xảy ra trước đây, vấn đề quan trọng vẫn là việc tìm ra loại vaccine thích hợp.
Nhưng các chuyên gia cho rằng người ta không thể sản xuất được vaccine mới cho đến khi chủng virus H5N1 biến đổi.
Và thậm chí sau đó phải mất ít nhất bốn tháng mới sản xuất được.
Dường như sự thách thức vẫn giống như đại dịch lần trước. Đó là liệu các nước có thể kịp sản xuất đủ vaccine để ngăn chặn số người chết hàng loạt hay không.