Cuộc khởi nghĩa nông dân của ba anh em nhà Tây Sơn đã ghi một dấu mốc sâu đậm trong lịch sử dân tộc, hình thành một triều đại tuy ngắn ngủi nhưng lẫy lừng, với bao chiến công dẹp giặc ngoại xâm hiển hách và những kế sách, chiến lược dựng xây đất nước đầy tính đột phá, táo bạo.
Chính từ đây, năm 1785 quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy đã vượt biển vào Gia Ðịnh đánh tan năm vạn quân Xiêm, lập nên chiến thắng lẫy lừng Rạch Gầm - Xoài Mút.
Ðến giữa năm 1786, quân Tây Sơn với danh nghĩa "Phò Lê, diệt Trịnh" cũng xuất phát từ đây tiến ra bắc đánh đổ chính quyền của Chúa Trịnh. Sau khi Nguyễn Nhạc mất, năm 1793, thành Hoàng đế được đổi tên thành Quy Nhơn. Năm 1799, nhà Nguyễn tiến đánh Quy Nhơn, đổi tên là Bình Ðịnh. Thành trở về với nhà Tây Sơn năm 1801. Khi nhà Tây Sơn tan vỡ, thành Bình Ðịnh trở thành lỵ sở của quan trấn thủ địa phương, rồi bị phá dỡ để xây thành mới ở địa điểm khác. Dấu thành cũ, trải thêm mưa nắng, gió sương suốt mấy trăm năm, vì thế, phần nhiều là phế tích.
Tuy không còn sừng sững, nguy nga để người đời sau chiêm ngưỡng, có thể hình dung phần nào về tầm vóc, dáng vẻ của tòa thành cổ qua nhiều sử liệu được ghi chép lại khá chi tiết, cụ thể.
Vùng đất nơi thành Hoàng đế đứng chân vốn là kinh thành Ðồ Bàn của vương quốc Chăm-pa, được khởi dựng từ thế kỷ thứ 10, trên một dãy đồi gò, có núi sông quanh co, trùng điệp bao quanh tạo nên địa thế hiểm yếu, thuận lợi cho việc chống trả ngoại xâm.
Nhờ vị trí đắc địa của Ðồ Bàn mà vương quốc Chăm-pa đã vững vàng vượt bao sóng gió, ngăn chặn ngoại bang xâm lấn, phát triển rực rỡ. Có rất nhiều sử liệu ghi chép về tòa thành cổ này trong giai đoạn từ thế kỷ 10-15, tuy có nhiều điểm chưa nhất quán, nhưng nhìn chung đều ghi nhận tòa thành có hình vuông, chu vi hơn 10 dặm, có bốn cửa, được xây bằng gạch đắp đất. Sau khi vương quốc Chăm-pa tan rã, thành Ðồ Bàn mất vai trò, dần trở nên đìu hiu, hoang phế suốt hơn 300 năm.
Ðến đời Tây Sơn, nhận thấy vị trí hiểm yếu của thành Ðồ Bàn, Nguyễn Nhạc cho xây dựng lại làm nơi đặt đại bản doanh của quân khởi nghĩa và sau này trở thành kinh đô của vương triều mới. Quy mô, hình thức của tòa thành mới chỉ có thể hình dung dựa trên những dấu tích còn sót lại đến ngày nay và qua một số ghi chép của giai đoạn trước.
Theo Ghi chép về thành Chà Bàn của Tổng đốc Bình Phú quan phòng Phan Huy Dũng và Trần Tiến Hối- triều Thành Thái (Văn hóa dân gian vùng thành Hoàng đế - Nxb KHXH, 2004), có tả về thành Hoàng đế: "Thành sửa đắp mở rộng về phía đông, dáng thẳng đứng, chu vi 25 dặm (hơn thành Chà Bàn - tức Ðồ Bàn - 15 dặm), tôn cao tường thành, xây bằng đá ong, cao 1 trượng 4 thước, dày 2 trượng. Thành có năm cửa tầng (ngoài bốn cửa cũ, mở thêm cửa Tân Khai)...".
Có thể nhận thấy Nguyễn Nhạc chỉ chọn địa điểm và tận dụng một số nguyên vật liệu, nền móng cũ cùng một số trang trí mang dấu tích Chăm như voi đá, ngựa đá..., và đã cho mở rộng thành Hoàng đế hơn nhiều so với quy mô cũ của thành Ðồ Bàn.
| Voi đá (điêu khắc Chăm). |
Những phế tích còn lưu lại đến ngày nay, đối chiếu với các ghi chép cũ, đều là của thành Hoàng đế, song đã có sự chồng lấn của các kiến trúc thời Nguyễn. Ðặc biệt, trong khu vực được coi là Tử Cấm Thành, nhà Nguyễn đã cho xây một khu lăng mộ thờ hai viên quan nhà Nguyễn đã tử tiết để giữ thành khi bị quân Tây Sơn tấn công là Võ Tánh và Ngô Tùng Châu, được gọi là "Lăng Võ Tánh" hay "Ðền Song trung", "Ðền Chiêu trung".
Trong cuộc trả thù đẫm máu của nhà Gia Long, thành Hoàng đế cũng gần như bị san phẳng, bị phá dỡ lấy nguyên vật liệu chuyển về xây lại tòa thành mới trên đất của thị trấn Bình Ðịnh ngày nay.
Tuy chỉ còn là những phế tích, những kiến trúc còn lưu lại trên đất của thành Hoàng đế vẫn cho phép hình dung về một tổng thể gồm ba vòng thành: thành ngoại, thành nội và Tử Cấm Thành.
Khu vực thành ngoại và thành nội bị phá hủy khá nặng, chỉ còn dấu tích một số đoạn tường thành được kè đá ong và đắp đất, cao từ 3 đến 6 m, chân rộng từ 10-15 m, mặt tường thành rộng từ 4-5 m, cho thấy một quy mô thành ốc khá kiên cố và đồ sộ.
Tuy nhiên, tất cả cũng chỉ còn có vậy, cùng với một số phù điêu bằng đá còn sót lại từ thời thành cũ Ðồ Bàn được tận dụng để trang trí trong thành Hoàng đế nằm rải rác như nghê đá, voi đá...
Ðể hiểu rõ về công trình kiến trúc đặc sắc này, các nhà khoa học trông chờ vào những bí ẩn còn đang được lưu giữ trong lòng đất. Chính vì vậy, liên tiếp trong hai năm 2004, 2005, Sở Văn hóa - Thông tin Bình Ðịnh, kết hợp với Viện Khảo cổ đã tiến hành hai cuộc khai quật, tập trung vào khu vực trung tâm của thành Hoàng đế là Tử Cấm Thành. Do kinh phí tự trang trải của Sở còn hạn hẹp, nên cả hai cuộc khai quật đều ở mức quy mô nhỏ, mang tính chất thăm dò, bước đầu khẳng định những nghi vấn của các nhà khoa học về cấu trúc của khu vực hoàng cung.
Ở cuộc khai quật năm 2004, mở hai hố thăm dò, các nhà khoa học đã thu được hàng nghìn hiện vật là gạch ngói, sành sứ, vũ khí của cả thời Tây Sơn và Nguyễn và đã làm phát lộ dấu tích một kiến trúc mà theo phỏng đoán của các nhà khoa học là một thủy hồ hình trăng lưỡi liềm trong nội cung, và dấu móng của một công trình ở vào vị trí vốn được coi là nhà thờ tổ Nguyễn Nhạc.
Dựa trên những kết quả thu thập được, cuộc khai quật năm nay vừa được tiến hành vào tháng 6, mở ba điểm thăm dò: Một điểm tại vị trí đối xứng với thủy hồ đã phát lộ trong cuộc khai quật năm 2004, một điểm tại vị trí được dân gian cho rằng là dấu tích của một giếng nước cổ và điểm thứ ba tại chân khu lăng Võ Tánh, nơi theo tài liệu cổ cho là điện bát giác (nơi thiết triều và gặp gỡ quan lại) của nhà Tây Sơn.
Tại các vị trí này, các nhà khảo cổ đã làm xuất lộ thêm dấu vết của ba công trình kiến trúc mà dựa theo địa tầng thì có thể phán đoán là đều thuộc về thời Tây Sơn, cùng hàng nghìn hiện vật gốm, sành sứ, vũ khí...
Bước đầu, với việc xuất lộ thêm dấu tích thủy hồ thứ hai, có thể khẳng định về một trục đối xứng trong kiến trúc của khu vực trung tâm thành Hoàng đế. Riêng về nền móng phát lộ ở khu vực được coi là nền điện bát giác, ý kiến của các nhà khoa học vẫn chưa thật thống nhất, bởi đây là khu vực bị phá hủy khá nghiêm trọng, có sự chồng lấn, đan xen của kiến trúc nhiều thời kỳ, trong khi, quy mô khảo cổ, do kinh phí và hiện trạng khu di tích, lại chưa thể mở rộng để thu thập thêm tư liệu.
Trong những nghiên cứu liên quan đến thành Hoàng đế, các nhà khoa học đều hết sức thận trọng khi đưa ra các nhận định, bởi tính chất phức tạp do những tác động của thời đại lên khu di tích có vị trí hết sức đặc biệt này dễ gây ra những nhầm lẫn, ngộ nhận.
Thành Hoàng đế đã được Nhà nước công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia từ năm 1982. Trong lòng đất thành cổ còn ôm chứa rất nhiều ẩn số về kiến trúc lịch sử độc đáo này.
Ðể có thể tìm hiểu và hình dung đầy đủ về tòa thành cổ, cần phải tiến hành những cuộc khai quật quy mô lớn hơn, quy tụ những nhà khoa học hàng đầu cùng các phương tiện kỹ thuật hiện đại. Sau mỗi cuộc khai quật, cần tiến hành hội thảo khoa học để phân tích các kết quả thu thập được.
Trong khi các biện pháp khoa học triệt để chưa được tiến hành, cần giữ gìn nguyên trạng khu di tích, hạn chế tối đa những tác động của khí hậu và con người.
Cả một triều đại, dường như, cũng chỉ "còn một chút này". Suy cổ, cập kim, những phế tích của thành Hoàng đế lừng lẫy một thời vẫn còn có thể nói được nhiều điều với mai sau.