Thành công ở hồ Văn : Có mở ra hướng xử lý cho hồ Hà Nội?

Hồ Hữu Tiệp, một di tích lịch sử
bị ô nhiễm trầm trọng.
Hồ Hữu Tiệp, một di tích lịch sử bị ô nhiễm trầm trọng.

Hồ Hà Nội ô nhiễm trầm trọng

Hà Nội hiện có hơn 100 hồ lớn nhỏ ở nội thành với tổng diện tích khoảng 1.000 ha. Tuy nhiên, một thực trạng đáng buồn là hầu hết các hồ đều bị ô nhiễm, mất vệ sinh và mỹ quan. Các hồ chứa nước và hồ điều hòa có chỉ số ô nhiễm chủ yếu là DO, COD, BOD5, CN, dầu mỡ, kim loại nặng, đặc biệt là ô nhiễm vi sinh. Các hồ đều có hiện tượng phú dưỡng với rất nhiều tảo xanh, đặc biệt là hồ Ba Mẫu. Các hồ gần khu vực khu dân cư như Đống Đa, Giảng Võ, Thành Công, Thanh Nhàn có số lượng coliform vượt tiêu chuẩn cho phép từ 100 đến 200 lần, vào mùa khô có thể tăng lên hàng nghìn lần.

Kỹ sư Đặng Dương Bình, nguyên Trưởng phòng quản lý môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội cho biết, 17/18 hồ nước trong khu vực nội thành Hà Nội (cũ) tham gia vào hệ thống điều tiết thoát nước của TP. Vì thế, trước khi bước vào mùa mưa, lượng nước trong các hồ này bị Công ty cấp thoát nước rút xuống mức thấp nhất để tăng lượng nước chứa. Việc rút nước này không thuận lợi cho sự tồn tại và đời sống của các loài thủy sinh và tăng mức độ ô nhiễm nước trong hồ.

Theo TS Bùi Tâm Trung, Chủ tịch Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường thủ đô cho rằng, ô nhiễm hồ Hà Nội là do nước thải và chất thải rắn bắt nguồn từ các hoạt động sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp đổ vào hồ. Ô nhiễm hồ là sự loạn dưỡng của các hồ. Sự dôi dư của nitrat và phốt phát gây ra việc tăng sinh hỗn loạn của thực vật nổi và các loại tảo. Sau khi chết các loại tảo tích tụ tại đáy hồ ngày càng dày thêm, một mặt làm giảm thể tích hồ, mặt khác trong quá trình phân hủy chúng kéo theo sự tiêu thụ lớn về ô-xy trong nước làm biến mất dần các loài thủy sinh khác và giải tỏa ra các chất khí có mùi thối.

Việc cải thiện hồ Hà Nội trong thời gian qua, theo ông Trung mới chỉ dừng lại ở cải tạo hệ thống thoát nước, tách riêng nước mưa và nước thải để nước thải không đổ vào hồ, làm đường dạo ven hồ, hoặc nạo vét một số lòng hồ... Những việc làm này làm cho cảnh quan hồ khang trang hơn, nhưng lại chưa cải thiện được chất lượng nước hồ.

Làm sao để cải thiện được nước hồ đang là vấn đề lớn được các nhà khoa học quan tâm. Nhiều ý tưởng táo bạo được đưa ra như thay nước hồ Tây và xử lý nước thải, hoặc nâng cao chất lượng nước hồ bằng cây thủy sinh, nhưng ý kiến phản bác cũng không ít. Có hồ dùng chế phẩm vi sinh để xử lý nhưng cũng không thể làm được đến nơi đến chốn.

Việc hoạt chất LTH 100 và chế phẩm vi sinh xử lý nước hồ Văn có kết quả tốt trong ba tháng. Nếu thử nghiệm này cuối cùng đạt kết quả như mong muốn, theo ông Trung, sẽ là một đóng góp quan trọng của nhóm nghiên cứu trong việc xử lý ô nhiễm các hồ.

LTH 100 chỉ là chất diệt tảo!

PST, TS Lê Văn Cát (phải) tranh luận với trưởng nhóm
nghiên cứu LTH 100 bên lề hội thảo.

Tuy nhiên, tại hội thảo “Quản lý tổng hợp hồ Văn và các hồ ở Hà Nội”, nhiều nhà khoa học đã không đánh giá cao công nghệ LTH 100, không coi đây là một bước đột phá trong xử lý ô nhiễm nước. 

“Hoạt chất LTH 100 chỉ là một chất diệt tảo. Tôi có thể chỉ ra hơn ba chục chất tương đương TH100 có tại Việt Nam.” PST, TS Lê Văn Cát, chuyên gia hóa học, Viện hóa học thuộc Viện KHCN Việt Nam nói. Vì thế, ông cho rằng, việc xử lý thành công hồ Văn là do nhóm có một tổ hợp về mặt kỹ thuật chứ không chỉ riêng hoạt chất LTH 100.

Thành phần chính của hoạt chất LTH 100

Lê Thanh Hùng, thành viên trẻ nhất của nhóm nghiên cứu hoạt chất LTH 100 cho biết, nhóm mới chỉ công bố thành phần hoạt chất trước Cục Sở hữu Trí tuệ vào tháng 5-2008. Theo đó, hoạt chất này bao gồm axit axetic (giấm chua) CH3COOH, axit citric CH2(COOH)C(OH)(COOH) – CH2COOH, peraxetic và H2O2. Vẫn theo anh Hùng, hợp chất đã được đăng ký bản quyền với Cục Sở hữu trí tuệ và nhóm tác giả nhận bằng độc quyền giải pháp hữu ích cuối tháng Tám vừa qua.

Theo nhóm nghiên cứu, LTH100 có khả năng chuyển hóa hấp thụ hữu cơ, lắng kết nhanh hữu cơ, khử đựoc ion kim loại nặng, có khả năng diệt tảo và oxy hóa một số chất ô nhiễm trong nước và không ảnh hưởng đến hoạt động của vi sinh vật như một số hóa chất khác.

Theo PGS Cát, việc thả hóa chất làm cho tảo chết rồi vớt lên có thể tạo vòng luẩn quẩn, tảo chết lại lặn xuống đáy hồ rồi gây ô nhiễm, trước mắt thì nước có thể sạch, nhưng lâu dài thì vẫn bẩn. Vì thế, khi chết, tảo phải được vớt ngay trước khi chìm xuống đáy hồ.

Ông cho rằng có cách làm hay hơn nên áp dụng cho hồ Hà Nội là thu hồi tảo khi còn sống. Tảo sống lơ lửng trong nước, phía trên dày hơn do có ánh sáng, có thể dùng bộ lọc để lọc tảo qua nước. Tảo sống sau khi thu hồi có thể chế biến thành thức ăn cho cá. Ngay cả việc thả loại cá nào cũng phải tính kỹ, có loại cá như cá rô thì ăn tảo, nhưng có loại thì không.

GS, TS Dương Đức Tiến, ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội, một chuyên gia về tảo thì cho rằng, chính trong những điều kiện tảo độc sống nhiều tại các hồ Hà Nội, có thể tìm được nguồn lợi thu lại được từ nguồn độc đó. Vì tảo độc đặc hữu chỉ Việt Nam có, nếu biết “nuôi” tảo độc trong những lưu vực hồ càng nhỏ, càng lưu cữu lâu rồi chiết xuất, thì giá trị của một ml gam tảo có thể bằng giá trị của hàng tấn tôm!

Với cách xử lý của nhóm nghiên cứu này, theo ông Cát, hồ bé sẽ thành công hơn hồ lớn, vì cách diệt tảo này hồ lớn thu hồi rất khó, tảo sẽ lặn xuống dưới đáy hồ gây bẩn trở lại.

Ngoài ra, PGS Cát cho biết ông không tin hoạt chất LTH 100 có thể oxy hóa chất hữu cơ, khử được nitơ, phốt pho và kim loạil nặng. “Tôi khẳng không có hoạt chất nào làm được tất cả việc đó vì hồ là cơ thể sống, các chất bẩn sẽ đi đâu? Cùng lắm các chất hữu cơ thành khí carbon bay lên trời, còn phốt pho thì vẫn nguyên vẹn trong nước”.

Cần khảo sát đa dạng sinh học của hồ trước khi xử lý

Một trong những quy trình tối thiểu khi xử lý hồ, theo các nhà khoa học, là phải khảo sát đa dạng sinh học. Nhưng TS Nguyễn Phú Tuân, trưởng nhóm nghiên cứu thì lại cho rằng, với một nơi ô nhiễm nặng như hồ Văn, cá còn không sống được, thì làm gì còn những loài vi sinh vật đặc hữu. Do đó, nhóm nghiên cứu đã xử lý hồ mà không khảo sát đa dạng sinh học.

GS, TS Dương Đức Tiến nhận xét, hồ chứa, ao, sông đều là tài nguyên rất đẹp, cấu tạo bởi nhiều chất, hoạt động sống, sinh vật, vi sinh vật. Nếu xử lý nước hồ như xử lý hồ bơi, làm hồ thật trong nghĩa là tiêu diệt sự sống, sự đa dạng, chất hữu cơ trong nước. 

“Hoạt chất LTH 100 có thể sử dụng cho hồ Văn, còn nếu là hồ Tây thì tôi sẽ là người đầu tiên phản đối vì phá hoại tài nguyên”, ông Tiến gay gắt.

Nước Hồ Gươm cũng bị ô nhiễm.

“ Công nghệ chỉ có một, nhưng mỗi hồ và mỗi thủy vực khác nhau. Mang công nghệ này từ hồ Văn ra Hồ Hoàn Kiếm thì không chấp nhận được, nhất là khi nói đến vi tảo đặc hữu”, GS, TS Đặng Đình Kim, Phó Viện trưởng Viện Công nghệ môi trường thuộc Viện KHCN Việt Nam thêm vào.

 Theo ông, dùng LTH 100 xử lý sông Tô Lịch cũng sẽ không thành công vì xử lý một thủy vực tĩnh hoàn toàn khác dòng chảy. Sông Tô Lịch không phải là nước tù đọng, phải có giải pháp khác.

 Còn theo PGS, TS Hà Đình Đức, Trưởng nhóm chuyên gia dự án cải tạo Hồ Gươm, làm ra chế phẩm sinh học cải tạo nước hồ là tốt. Nhưng trong quá trình xử lý có đặt vấn đề lịch sử Hồ Văn như thế nào không?

“ Hình thành một hệ sinh thái phải mất trăm năm, nghìn năm. Xóa hệ sinh thái đó bằng công nghệ hiện đại có thể chỉ một buổi là hết”, ông nói. 

Tóm lại, thành công trong xử lý hồ Văn thì nhiều nhà khoa học công nhận, nhưng việc áp dụng mô hình xử lý của hồ Văn cho các hồ khác đang bị ô nhiễm trầm trọng của Hà Nội (mặc dù bao năm qua chính họ cũng không nghĩ ra giải pháp tối ưu) vẫn không được chấp nhận. 

Tuy nhiên, chỉ vài tháng nữa, Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội sẽ có kết luận về mức độ thành công trong xử lý hồ Văn. Việc quyết định có tiếp tục thử nghiệm LTH 100 trên các hồ khác hay không vẫn thuộc về chính quyền TP Hà Nội.

Có thể bạn quan tâm