Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai giữa tổ chức với cá nhân, hộ gia đình

Trả lời:

Khoản 2, điều 160 Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ quy định rõ thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai trong trường hợp các bên tranh chấp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất như sau: Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi tắt là UBND cấp tỉnh) giải quyết đối với tranh chấp đất đai giữa tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài với nhau hoặc giữa tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài với hộ gia đình, cá nhân cộng đồng dân cư.

Đối chiếu với quy định trên, khi tranh chấp xảy ra, ông bà có quyền nộp đơn lên UBND cấp tỉnh, cụ thể là chủ tịch UBND để yêu cầu giải quyết tranh chấp. Việc giải quyết trong trường hợp này được dựa trên các căn cứ như sau: chứng cứ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất; ý kiến của hội đồng tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai cấp xã; thực tế diện tích đất mà các bên tranh chấp đang sử dụng ngoài diện tích đất đang có tranh chấp và bình quân diện tích đất cho một nhân khẩu tại địa phương; sự phù hợp của hiện trạng sử dụng thửa đất...

Trong trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết của chủ tịch UBND cấp tỉnh (quyết định giải quyết lần đầu) ông bà có quyền gửi đơn (khiếu nại) xin giải quyết tranh chấp đất đai đến Bộ Tài nguyên và Môi trường; quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là quyết định giải quyết cuối cùng.

Cần lưu ý, trước khi gửi đơn yêu cầu cơ quan thẩm quyền giải quyết các bên tranh chấp có quyền chủ động gặp gỡ để tự hòa giải, nếu không hòa giải được thì thông qua hòa giải ở cơ sở để giải quyết. Trường hợp các bên không tự hòa giải được thì gửi đơn tới UBND cấp xã để hòa giải. Và chỉ khi một hoặc các bên không nhất trí được với nhau thì vụ việc mới được tiến hành giải quyết theo quy trình nêu trên.

-------------------------------

Quyền đối với bí mật đời tư

Hỏi: Pháp luật hiện nay quy định như thế nào về quyền đối với bí mật đời tư? Muốn tiến hành việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân thì phải tuân theo quy định như thế nào của pháp luật?

Trả lời: Theo quy định tại Điều 34 Bộ luật Dân sự, quyền đối với bí mật đời tư như sau:

1. Quyền đối với bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

2. Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý hoặc thân nhân của người đó đồng ý, nếu người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và phải được thực hiện theo quy định của pháp luật.

3. Không ai được tự tiện bóc mở, thu giữ, tiêu hủy thư tín, điện tín, nghe trộm điện thoại hoặc có hành vi khác nhằm ngăn chặn, cản trở đường liên lạc của người khác.

Chỉ trong những trường hợp được pháp luật quy định và phải có lệnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được tiến hành việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân.

Có thể bạn quan tâm