Theo Vụ Nuôi trồng Thủy sản (Bộ Thủy sản), tôm chân trắng là loài tôm rộng muối, rộng nhiệt, lớn nhanh ở giai đoạn đầu khi tôm có khối lượng dưới 20 g, không đòi hỏi thức ăn có hàm lượng protein cao như tôm sú; hệ số thức ăn tương đối thấp, có khả năng sống tốt trong điều kiện nuôi ở mật độ cao và có thể cho năng suất tới 30 tấn/ha/vụ, cá biệt có trường hợp nuôi siêu thâm canh với năng suất 100 tấn/ha/năm.
Được nhiều nhưng thua cũng không ít
Lần đầu tiên được nhập để nuôi thử ở Bạc Liêu vào năm 2001, đến năm 2004 vừa qua, với diện tích khoảng 1.600 ha, sản lượng tôm chân trắng đã đạt khoảng 5.000 tấn.
Một số địa phương đã thu được kết quả tốt cả về năng suất và sản lượng Quảng Ninh thả nuôi 376 triệu con, có đơn vi đạt năng suất 18 tấn/ha/vụ; Quảng Ngãi nuôi tôm trên vùng đất cát ở cả hai vụ, đạt hiệu quả kinh tế (được xem là mô hình có hiệu quả kinh tế cao nhất hiện nay của tỉnh), góp phần giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo cho nhân dân vùng bãi ngang ven biển (năng suất bình quân 9,4 tấn/ha, có hộ đạt 15 tấn/ha). Nghệ An tuy chỉ đạt bình quân 3 tấn/ha, nhưng do tôm được thả nuôi sau vụ nuôi tôm sú và mức đầu tư thấp, đã có lãi từ 20 – 30 triệu đồng/ha; Đồng Nai đạt năng suất bình quân 5 tấn/ha, lãi trên 100 triệu đồng/ha.
Đặc biệt, có một số cơ sở nuôi đạt kết quả rất cao: Công ty Xuất khẩu Thủy sản II Quảng Ninh nuôi 18 ha đạt sản lượng 176 tấn; Công ty Công nghệ Việt Mỹ nuôi hai vụ trên diện tích 346 ha, đạt năng suất 7 tấn/ha, sản lượng 2.422 tấn; Công ty Đầu tư Phát triển Hạ Long đạt năng suất 11 tấn/ha/vụ; tại Phú Yên có 30 ha của Công ty Asia Hawaii và 4,2 ha thuộc dự án của Sở Khoa học Công nghệ nuôi trên vùng đất cát ven biển, đạt năng suất bình quân 6 tấn/ha/vụ.
Tuy nhiên, cũng có nhiều nơi nuôi tôm chân trắng không đạt hiệu quả kinh tế. Tại Quảng Nam, năm 2003 có bốn hộ nuôi trên tổng diện tích bốn ha, có sản lượng thấp, cỡ tôm thu hoạch nhỏ, thậm chí chỉ ở mức 200 con/kg, năm 2004 chỉ còn một hộ nuôi trên 0,3 ha, cỡ tôm 165 con/kg. Phú Yên có 164 ha nuôi trong vùng nuôi tôm sú tập trung (được UBND tỉnh cho phép) đạt năng suất bình quân 1,5 tấn/ha. Tại Ninh Bình, mặc dù diện tích nuôi chỉ có 2,4 ha nhưng đều phải thu hoạch sớm vì tôm bị nhiễm bệnh, sản lượng chỉ đạt 0,9 tấn/ha.
Một số địa phương, sau khi thấy kết quả nuôi đạt hiệu quả kinh tế thấp đã dừng các hoạt động nuôi loài tôm này như Ninh Bình, Cà Mau...
Dịch bệnh trên tôm chân trắng đã xảy ra ở một số nơi trong năm 2004 như ở Quảng Nam (20 ha), Bình Định (20 ha), Quảng Ngãi (80% của 20 ha tôm nuôi vụ 3 đã bị nhiễm bệnh, chết hàng loạt). Người nuôi tôm cho rằng đối với vùng đã có một thời nuôi tôm sú đạt kết quả tốt, nay môi trường bị suy thoái hoặc do dịch bệnh, không còn phù hợp với nuôi tôm sú nữa thì có thể chuyển sang nuôi tôm chân trắng để đạt hiệu quả kinh tế cao. Song thực tế cho thấy, loài tôm này cũng có thể bị nhiễm những bệnh thường gặp ở tôm bản địa, chủ yếu là tôm sú. Tại Phú Yên, 49/164 ha nuôi tôm chân trắng đã bị nhiễm bệnh đốm trắng, tôm bị chết hàng loạt và gây ảnh hưởng đến môi trường chung quanh.
Trên thực tế, việc nhập lậu tôm bố mẹ, tôm giống qua biên giới bằng đường bộ diễn ra rất phức tạp và khó kiểm soát (năm 2004, có tới 56,2% tôm giống chân trắng nhập từ Trung Quốc vào tỉnh Quảng Ninh không có giấy phép vận chuyển và phát tán ra nhiều tỉnh).
Việc xuất giống ra khỏi các tỉnh có trại giống (16 trại) đều chưa chấp hành đúng các văn bản hướng dẫn của Cục Quản lý Chất lượng, An toàn vệ sinh và Thú y Thủy sản về việc thực hiện Chỉ thị 01/2004/CT-BTS của Bộ trưởng Thủy sản về việc tăng cường quản lý tôm chân trắng ở Việt Nam, một số chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản vẫn cấp giấy chứng nhận kiểm dịch cho tôm chân trắng giống xuất bán khỏi tỉnh mặc dù chủ trại giống chưa cung cấp đầy đủ thông tin về khách hàng mua tôm giống như địa điểm nuôi, sơ đồ mô tả chứng minh vùng nuôi có khả năng cách ly dịch bệnh và có xác nhận của sở thủy sản hoặc sở nông nghiệp địa phương.
Một chuyên gia của Vụ Nuôi trồng Thủy sản, nhấn mạnh: “Việt Nam khuyến khích việc nhập sinh vật lạ có giá trị kinh tế cao để nuôi trồng nhằm đa dạng hóa đối tượng nuôi trồng thủy sản, góp phần tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích canh tác và thúc đẩy phát triển nền kinh tế.
Tuy nhiên, việc nhập sinh vật lạ cần phải được cân nhắc thận trọng trên cơ sở khoa học nhằm bảo đảm an toàn sinh thái. Nhiều văn bản pháp quy đã được ban hành nhằm ngăn chặn bệnh dịch có thể xảy ra từ việc nhập sinh vật ngoại lai cũng như để quản lý, chỉ đạo sản xuất và nhập khẩu sinh vật ngoại lai: Luật thủy sản, Pháp lệnh về giống vật nuôi, Pháp lệnh về thú y”.
Cần tiến hành những bước đi thuận trọng
Trong công tác di giống - thuần hoá cá ở nước ta, việc nhập cá mè trắng Trung Quốc được coi là chưa tốt vì cá mè trắng Việt Nam lớn nhanh, kích thước lớn, chất lượng tốt nhưng nay đã trở nên hiếm; cá Rohu nhập nội mang theo sán lá đơn chủ và bốn loài ký sinh trùng chưa hề có ở Việt Nam; ốc bươu vàng phá hoại lúa. Chính vì vậy, việc nhập tôm chân trắng vào Việt Nam để nuôi rộng rãi trong thời gian gần đây đã nổi lên là một vấn đề gây nhiều tranh luận.
Thông tin từ Cục Quản lý Chất lượng, An toàn vệ sinh và Thú y Thủy sản khẳng định: Để có cơ sở cho việc định hướng phát triển tôm chân trắng tại Việt Nam trong năm 2005 và những năm tiếp theo, cần có sự trao đổi thống nhất giữa các nhà quản lý, các nhà khoa học, các doanh nghiệp nhằm cập nhật đầy đủ hơn thông tin về kỹ thuật sản xuất giống, nuôi, kiểm soát dịch bệnh và bảo vệ môi trường sinh thái cũng như hiệu quả kinh tế xã hội của việc nuôi tôm chân trắng”.
Hiệu quả kinh tế gắn với bảo vệ môi trường
Với những kết quả nghiên cứu, khảo nghiệm và thực tiễn sản xuất trong thời gian qua, Vụ nuôi trồng thủy sản cho rằng cần phải xác định tôm sú vẫn phải là tôm nuôi chủ lực của Việt Nam. Để có thể từng bước đưa tôm chân trắng thành đối tượng nuôi bổ sung nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cho các địa phương nhưng vẫn bảo đảm môi trường sinh thái bền vững cần phải thực hiện một loạt các giải pháp dưới đây:
Quy hoạch các vùng nuôi, nuôi theo phương thức bán thâm canh và thâm canh, có đủ điều kiện khống chế môi trường và bảo đảm cách ly về dịch bệnh với vùng nuôi tôm sú và các vùng nuôi tôm khác; tôm giống hoặc tôm bố mẹ nhập khẩu phải rõ xuất xứ, được xác định là tôm sạch bệnh, phải được kiểm dịch chặt chẽ; cơ sở sản xuất tôm giống và cơ sở nuôi tôm thịt đều phải xử lý nước nuôi tôm trước khi xả thải ra môi trường ngoài cơ sở sản xuất, bất kể tôm của cơ sở bị nhiễm bệnh hay chưa bị nhiễm bệnh; Không thả tôm chân trắng vào vùng nước tự nhiên; cần tăng cường công tác quản lý thú y thủy sản, kiểm dịch, kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý thú y thủy sản tại các cơ sở sản xuất tôm giống và các hoạt động nuôi tôm chân trắng để có biện pháp xử lý kịp thời.
Đề xuất của các chuyên gia Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I khẳng định, để đa dạng hóa sản phẩm, tôm chân trắng có thể phát triển nuôi ở Việt Nam, nhưng với điều kiện phải có công nghệ nuôi phù hợp cho từng vùng và con giống có chất lượng cao sạch bệnh; giống trước khi đưa vào nuôi cần phải kiểm dịch các bệnh virus, bệnh vi khuẩn, vật bám; các vùng nuôi tôm chân trắng cần quản lý chặt chẽ các dịch bệnh bùng phát.
Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Uyên và các cộng sự ở Viện Công nghệ Sinh học kiến nghị, cần ban hành quy chế và quy trình kiểm dịch thống nhất đối với một số bệnh ở tôm chân trắng nhập khẩu, nuôi và lưu thông trên thị trường bao gồm tôm giống, tôm bố mẹ và tôm đông lạnh; người nuôi tôm chân trắng phải thực hiện chế độ kiểm dịch bắt buộc và chịu sự kiểm soát của cơ quan chức năng.
Khi phát hiện có bệnh cần thông báo và khoanh vùng không để bùng phát thành dịch và lây lan sang các đối tượng tôm nuôi khác; cần tiếp tục nghiên cứu và đánh giá ảnh hưởng và khả năng lây nhiễm của tôm chân trắng lên các đối tượng nuôi khác (tôm, giáp xác). Sở thủy sản Bình Định đề nghị có biện pháp quản lý nguồn tôm chân trắng bố mẹ sạch bệnh, cấm sử dụng tôm chân trắng bố mẹ từ các ao nuôi thịt; phổ biến các phương pháp kiểm tra bệnh; cân đối giá tôm giống và giá thức ăn phù hợp; quy định rõ thẩm quyền quản lý giống tôm chân trắng...