Nhân Ngày viêm gan thế giới (28-7), năm nay Tổ chức Y tế thế giới (WHO) kêu gọi tất cả các nhà hoạch định chính sách ở các quốc gia cần tập trung nguồn lực để ngăn chặn đại dịch viêm gan, vì những tác hại nghiêm trọng của nó đang ảnh hưởng trực tiếp đến 400 triệu người và có tới hai tỷ người nhiễm vi-rút viêm gan B. WHO đặc biệt nhấn mạnh cần phải làm xét nghiệm để phát hiện người có nhiễm vi-rút, vì phần lớn những người nhiễm vi-rút hoặc đã bị viêm gan, hoàn toàn không có triệu chứng, đến thời kỳ bệnh nặng mới biết, làm cho việc chữa trị kém hiệu quả. Do có tới 95% số người mắc bệnh viêm gan chưa biết mình bị bệnh, cho nên WHO sẽ đưa ra chiến lược xét nghiệm viêm gan đơn giản để mở rộng quy mô trên toàn cầu, tạo điều kiện thuận lợi cho người bệnh tiếp cận dịch vụ này. Bên cạnh đó, tăng cường công tác chăm sóc, điều trị đối với người đã bị viêm gan, xơ gan hoặc ung thư… Với chiến lược đúng đắn, WHO ước tính từ năm 2015-2030, toàn thế giới có bảy triệu người sẽ được cứu sống.
Tại nước ta, hàng loạt các biện pháp cùng thế giới chống bệnh viêm gan được triển khai. Phong trào Toàn dân chung tay đánh gục vi-rút viêm gan; Cuộc thi Tìm hiểu bệnh viêm gan vi-rút được phát động trong cả nước; nhiều địa phương tổ chức khám bệnh, phát thuốc cho người bệnh. Bộ Y tế ban hành kế hoạch phòng, chống bệnh viêm gan vi-rút giai đoạn 2015-2019... Tuy nhiên, cuộc chiến với bệnh viêm gan vi-rút hiện nay còn nhiều thách thức, đòi hỏi phải tập trung nguồn lực nhiều hơn nữa để vượt qua khó khăn, thách thức.
Đó là việc tăng cường công tác giáo dục, nâng cao nhận thức trong cộng đồng, để mọi người biết được sự nguy hiểm của bệnh viêm gan do vi-rút. Nội dung này hết sức quan trọng, quyết định thành bại của phong trào, nếu mọi người nhận thức được tính chất của dịch bệnh, sẽ tự nguyện đến khám, xét nghiệm điều trị đúng phác đồ, đồng thời giữ gìn, tránh để lây lan cho người khác.
Các cơ quan chức năng cần tổ chức điều tra dịch tễ mang tính toàn quốc để có cái nhìn tổng quan, trên cơ sở đó hoạch định chính sách, đưa ra các giải pháp đối phó phù hợp. Một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm vi-rút viêm gan C tại các tỉnh phía nam cao hơn các tỉnh phía bắc, như tỉnh Bình Thuận 3,3%, TP Hồ Chí Minh 2,0%, Thái Bình 1,0%, Yên Bái 1,2%... Hiện nay nước ta cũng chưa có số liệu đầy đủ tình trạng phụ nữ đang trong thời kỳ sinh đẻ bị nhiễm vi-rút viêm gan B, chỉ có một số công trình điều tra ước tính tỷ lệ phụ nữ nhiễm vi-rút viêm gan B đang trong thời kỳ sinh đẻ là 10%. Như vậy mỗi năm số trẻ được sinh ra khoảng 1,6 triệu trẻ thì có khoảng 160 nghìn bà mẹ có HBsAg dương tính, đồng thời có khoảng 40% số bà mẹ có cả HBeAg dương tính. 90% số bà mẹ đang mắc viêm gan vi-rút B sẽ lây truyền cho con trong khi sinh. Với tình trạng như vậy, mỗi năm chúng ta có hơn 60 nghìn trẻ bị lây nhiễm vi-rút viêm gan B, phần lớn số trẻ này bị biến chứng viêm gan, xơ gan hoặc ung thư gan. Đây là đường lây truyền rất phổ biến và để lại những hậu quả nghiêm trọng.
Nhiều tỉnh, thành phố đã quan tâm tổ chức khám sàng lọc để tìm hiểu tỷ lệ nhóm nhiễm vi-rút viêm gan trong giai đoạn an toàn và nhóm đã có biến chứng viêm gan, xơ gan hoặc ung thư gan. Bước sàng lọc này có ý nghĩa quan trọng đến tỷ lệ tử vong hiện nay, vì khi phát hiện được bệnh ở giai đoạn sớm thì việc chữa trị có kết quả tốt và ngược lại. Song nội dung này mới được thực hiện còn rất khiêm tốn, vì giá thành cao. Chỉ cần nêu một vài xét nghiệm: xét nghiệm HBV-DNA, HCV-RNA giá 700 nghìn đến 1,2 triệu đồng; chụp cắt lớp ổ bụng giá từ 700 nghìn đến một triệu đồng... Trong khi đó, ước tính cả nước có khoảng 8 triệu người trong tình trạng viêm gan vi-rút B và vi-rút C.
Điều trị là giải quyết hậu quả và là gánh nặng cho toàn xã hội. Đối với viêm gan vi-rút C, có thể điều trị khỏi hoàn toàn bằng các loại thuốc, với giá thành từ 40 đến 70 triệu đồng trong thời gian ba đến sáu tháng. Đối với viêm gan vi-rút B hiện nay có bảy loại thuốc thông dụng, số người bệnh được điều trị đầy đủ, tỷ lệ khỏi hẳn chỉ khoảng 10 đến 13%. Phần lớn người bệnh được điều trị bằng các thuốc uống, bệnh thoái lui lâu dài. Vấn đề khó khăn trong điều trị đó là một số ít người bệnh phải dùng thuốc kéo dài từ năm này qua năm khác hoặc trong số người bệnh điều trị tốt, khi ngừng điều trị vẫn còn có người bị tái phát. Bệnh kéo dài, tốn kém, một số người bệnh không thể tiếp tục điều trị, vì vậy dẫn đến tử vong. Những tiến bộ trong phẫu thuật cắt u gan, như phương pháp dùng RFA, phương pháp ghép gan từ người cho sống hoặc người cho chết não đã được triển khai. Nhưng những phương pháp này giá thành cao, người dân khó tiếp cận… Trong khi đó, điều cần quan tâm là phần nhiều người bị ung thư gan đến khám đều ở giai đoạn muộn, việc chữa trị kém hiệu quả.
Hưởng ứng lời kêu gọi của WHO, phong trào toàn dân chung tay đánh gục vi-rút viêm gan đang được các cấp, các ngành và toàn thể nhân dân hưởng ứng. Nhưng cần có những giải pháp hiệu quả hơn nữa để từng bước khắc phục những khó khăn, thách thức nêu trên, kịp thời ngăn chặn sự phát triển của căn bệnh đang được cho là “đại dịch” nhằm bảo vệ sức khỏe cho nhân dân.