Theo Nghị định 103/2012/NÐ-CP (có hiệu lực thi hành từ ngày 20-1-2013), từ ngày 1-1-2013, mức lương tối thiểu vùng sẽ chia theo bốn nhóm: Vùng I có mức lương tối thiểu mới 2.350.000 đồng/tháng (mức cũ 2.000.000 đồng/tháng); Vùng II: 2.100.000 đồng/tháng (mức cũ 1.780.000 đồng/tháng); Vùng III: 1.800.000 đồng/tháng (mức cũ 1.550.000 đồng/tháng); Vùng IV: 1.650.000 đồng/tháng (mức cũ 1.400.000 đồng/tháng). Mức tiền lương thấp nhất trả cho người lao động đã qua học nghề (kể cả do DN tự dạy nghề) phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng; khuyến khích các DN trả lương cho NLÐ cao hơn mức lương tối thiểu vùng quy định.
Theo Nghị định 66/2013/NÐ-CP ban hành 27-6-2013, từ 1-7, mức lương tối thiểu chung đối với cán bộ, công chức, lực lượng vũ trang... sẽ tăng từ 1,05 triệu đồng lên 1,15 triệu đồng mỗi tháng. Cũng từ 1-7, mức giảm trừ gia cảnh cho người nộp thuế và người phụ thuộc được nâng lên 9 triệu đồng và 3,6 triệu đồng (mức cũ tương ứng 4 và 1,6 triệu đồng). Ngoài ra, hàng loạt khoản phụ cấp, trợ cấp thể hiện tính nhân văn của chế độ ta, như đền ơn đáp nghĩa, bảo trợ xã hội, sẽ được loại ra khi tính thu nhập chịu thuế. Mức giảm trừ gia cảnh được điều chỉnh phù hợp khi giá cả biến động hơn 20%.
Quốc hội cũng đã thông qua lộ trình từ 1-1-2014 giảm mức thuế TNDN chung ở mức 25% còn 22%, và từ ngày 1-1-2016 chỉ còn 20%. Riêng DN nhỏ và vừa, kể cả hợp tác xã, nếu tổng doanh thu không quá 20 tỷ đồng/năm, thì từ 1-7, chỉ phải chịu thuế TNDN ở mức 20% (không áp dụng với thu nhập từ chuyển nhượng vốn, quyền góp vốn, BÐS và dự án đầu tư). Ðồng thời, thuế giá trị gia tăng (VAT), sẽ áp mức 5% cho các hợp đồng bán, cho thuê, thuê mua nhà ở xã hội và nhà thương mại; giảm 50% thuế VAT cho hợp đồng bán, cho thuê mua nhà ở thương mại có diện tích dưới 70 m2 và giá bán dưới 15 triệu đồng mỗi m2 từ 1-7-2013 đến 30-6-2014.
Việc giảm thuế này (và giảm lãi suất cho vay theo gói tín dụng 30 nghìn tỷ đồng hỗ trợ TTBÐS) sẽ giúp DN có thêm cơ hội giảm giá bán nhà ở xã hội, tăng lương cho người lao động, giảm bớt khó khăn về nhà ở đối với người có thu nhập thấp, đồng thời góp phần tháo gỡ khó khăn và phát triển cân đối hơn TTBÐS.
Tăng lương sẽ gây sức ép chi phí và cạnh tranh lên DN và đơn vị sử dụng lao động; làm tăng áp lực cân đối thu - chi NSNN (theo Bộ Tài chính, việc điều chỉnh giảm thuế TNCN khiến nguồn thu NSNN có thể giảm 4.000 - 5.000 tỷ đồng; còn việc tăng lương tối thiểu chung đòi hỏi khoản tiền cân đối NSNN là 21.700 tỷ đồng. Tổng cộng hai khoản trên đã chiếm ngót 50% tổng thiếu hụt khoảng 65.000 tỷ đồng cân đối NSNN trong nửa đầu năm 2013). Nhưng việc tăng lương lần này, dù còn khiêm tốn, cũng sẽ trực tiếp giúp người lao động có thêm thu nhập, cải thiện cuộc sống, và góp phần làm tăng tổng cầu xã hội, từ đó tạo xung lực mở rộng thị trường tiêu thụ cho sản xuất trong nước phát triển.
Có thể nói, việc ban hành và triển khai các điều chỉnh chính sách tài chính quan trọng về tăng lương cho người lao động và giảm thuế TNCN, TNDN trên đây có ý nghĩa rất lớn cả về mặt kinh tế, cũng như về mặt xã hội. Những động thái này thể hiện đậm nét định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường (KTTT) của Việt Nam. Những chủ trương, chính sách này càng có ý nghĩa hơn, cho thấy các nỗ lực chủ động và các ưu tiên nhất quán vì người lao động của Ðảng và Nhà nước ta trong bối cảnh vừa giảm sút các nguồn thu NSNN, vừa gia tăng áp lực chi NSNN gắn với sự gia tăng nhu cầu an sinh xã hội, hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn về cạnh tranh, thị trường tiêu thụ và yêu cầu hội nhập, đối phó với biến đổi khí hậu, dịch bệnh ngày càng gay gắt... Ðồng thời, đòi hỏi các cấp, các ngành, các địa phương nỗ lực hơn nữa về quản lý nguồn thu, giảm đến mức thấp nhất thất thu và thất thoát NSNN (kể cả thất thoát qua chi lương sai chế độ, sai đối tượng); sử dụng đầu tư và chi tiêu công tiết kiệm, hiệu quả hơn, cũng như tuân thủ nghiêm tinh thần Nghị quyết 01 và Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 7-1-2013 của Chính phủ, Nghị định 29/2013/NÐ-CP, cũng như Chỉ thị 09/CT-TTg ngày 24-5-2013 của Thủ tướng về tăng cường chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ tài chính - NSNN năm 2013.
Về tổng thể, sự lựa chọn chính sách phù hợp và hiệu quả đòi hỏi quá trình tăng lương và giảm thuế cần được cân nhắc theo lộ trình hợp lý, bảo đảm sự hài hòa, chia sẻ các lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động, góp phần nuôi dưỡng nguồn thu, giảm mức thu trước mắt để tăng cơ sở thu lâu dài, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, tăng sức cạnh tranh để phát triển bền vững đất nước, và bảo đảm đời sống người lao động.