Vai trò ngành ngân hàng trong nền kinh tế được khẳng định
Ngành ngân hàng đã thực hiện mục tiêu tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát thông qua điều hành chính sách tiền tệ: trong từng thời kỳ, trước những diễn biến phức tạp của nền kinh tế, căn cứ định hướng mục tiêu điều hành của Chính phủ, ngành ngân hàng đã áp dụng linh hoạt các công cụ của chính sách tiền tệ (CSTT) như giai đoạn 2009-2010, khi nền kinh tế đối mặt với nhiều khó khăn thách thức do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu gây ra, ngành ngân hàng đã áp dụng CSTT linh hoạt theo hướng nới lỏng, áp dụng quy định về trần lãi suất cho vay, thực hiện các biện pháp khuyến khích xuất khẩu, hỗ trợ lãi suất... giai đoạn 2011-2012, nền kinh tế tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức mà điển hình là lạm phát tăng cao, hoạt động của doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, dự trữ ngoại hối mỏng, lãi suất cho vay cao (18% đến 21%), thanh khoản trong hệ thống ngân hàng căng thẳng, nợ xấu tăng cao, thị trường vàng bất ổn, tỷ giá biến động... Phù hợp với định hướng chung của Chính phủ, ngành ngân hàng trong giai đoạn này phát triển theo hướng chặt chẽ, thận trọng với những đặc điểm: tăng trưởng tín dụng được kiểm soát ở mức dưới 20%, CSTT được thắt chặt với tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán khoảng 15% đến 16%, các loại lãi suất được điều chỉnh để bảo đảm kiềm chế lạm phát... Giai đoạn từ giữa năm 2012 đến nay, kinh tế vĩ mô dần ổn định với mức tăng CPI giảm dần về mức kiểm soát nhưng tăng trưởng kinh tế gặp nhiều khó khăn, sức cầu nền kinh tế giảm sút, hàng tồn kho cao, doanh nghiệp tiếp tục gặp nhiều khó khăn. Ngành ngân hàng trong giai đoạn này phát triển theo hướng linh hoạt, ưu tiên hỗ trợ tăng trưởng. Đặc biệt trong giai đoạn này, ngành ngân hàng triển khai mạnh mẽ các giải pháp hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, điển hình là việc quyết liệt trong thực hiện giảm mặt bằng lãi suất nhằm tăng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp. Bên cạnh việc thực hiện giảm lãi suất, ngành ngân hàng đã triển khai hiệu quả hàng loạt các chương trình, chính sách tín dụng góp phần hỗ trợ phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội.
Đến nay, hệ thống các ngân hàng thương mại (NHTM) được phát triển ở quy mô lớn, là kênh dẫn vốn chủ chốt trong nền kinh tế. Xét trong tổng thể hệ thống tài chính Việt Nam, tính đến hết năm 2015, khu vực ngân hàng đang chiếm tỷ trọng rất lớn với tổng tài sản chiếm tới 75% tổng tài sản hệ thống tài chính, trong đó, tổng dư nợ tín dụng hệ thống cung cấp cho nền kinh tế lên tới 4.656 nghìn tỷ đồng, bằng 111% GDP. Với quy mô lớn như vậy, nguồn tín dụng ngân hàng đang đóng vai trò là kênh dẫn vốn chính của nền kinh tế với tỷ trọng chiếm khoảng 40% đến 45% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
Trong thành công chung của ngành, khối ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) đóng vai trò trọng yếu bằng việc đi đầu, dẫn dắt toàn ngành trong thực hiện chủ trương chính sách của Chính phủ và ngành. Đến cuối năm 2015, khối NHTMNN gồm bốn ngân hàng (Agribank, BIDV, Vietinbank, Vietcombank) chiếm 45% tổng tài sản, 50,2% tổng dư nợ tín dụng và 46,3% nguồn vốn huy động của toàn hệ thống tính. Trong giai đoạn 2011-2015, khối NHTMNN đã đóng góp chính vào tăng trưởng toàn ngành với mức tăng trưởng tổng tài sản bình quân ở mức 13,8%/năm cao hơn mức 10,3%/năm của toàn hệ thống, tăng trưởng tín dụng ở mức 17,1%/năm so với mức 13,5%/năm toàn ngành.
Đặc biệt, vai trò của các NHTMNN được thể hiện rõ nét trong giai đoạn tái cơ cấu các tổ chức tín dụng (TCTD) vừa qua. Theo đó, các NHTMNN không những hoàn thành tốt nhiệm vụ của bản thân mà còn tích cực tham gia định hướng, dẫn dắt thị trường, đi đầu trong thực hiện các biện pháp chính sách của Chính phủ, ngân hàng nhà nước (NHNN). Điển hình nhất có thể kể đến là: (i) tham gia tích cực, hiệu quả trong tái cơ cấu, tiếp quản, nhận sáp nhập các ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém; (ii) đề xuất, thực hiện và triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi của Chính phủ và NHNN; (iii) đi đầu trong thực hiện các chủ trương chính sách của Chính phủ, NHNN đặc biệt trong giảm lãi suất huy động, lãi suất cho vay và góp phần quyết định hình thành mặt bằng lãi suất trên thị trường theo đúng định hướng của ngành trong từng thời kỳ; (iv) NHTMNN là lực lượng chính trong phát triển các dự án, chương trình kinh tế lớn có vốn lan tỏa của đất nước.
Thực trạng năng lực tài chính khối các NHTM nhà nước
Trong quá trình thực hiện vai trò đối với nền kinh tế, năng lực tài chính của khối NHTMNN thể hiện qua hệ số an toàn vốn (CAR) bị suy giảm nghiêm trọng. Cụ thể, giai đoạn 2011-2015, tài sản có rủi ro (TSCRR) của khối NHTMNN tăng trưởng trung bình ở mức 19,4%/năm, cao hơn mức tăng 15,43%/năm của vốn tự có, dẫn đến CAR của khối giảm từ mức 10,8% năm 2011 xuống mức 9,4% hiện nay - gần chạm ngưỡng tối thiểu 9% theo quy định của NHNN, thấp hơn mức bình quân của ASEAN là 10,3% (đồng thời tiêu chuẩn tính của Việt Nam thấp hơn). Tình trạng vốn tự có tăng không đủ bù đắp mức tăng TSCRR của khối NHTMNN làm suy giảm CAR chủ yếu do hai nguyên nhân: (1) Khả năng sinh lời của các NHTMNN bị co hẹp (Tỷ lệ NIM (đã trừ dự phòng rủi ro) từ mức 2,5% năm 2011 giảm còn 2,2% năm 2012 và tiếp tục giảm xuống mức 1,7% đến 1,8% giai đoạn 2013 - 2015) do đi đầu trong triển khai các chương trình, chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ (lãi suất cho vay thấp khoảng 7% trong khi lãi suất huy động theo giá thị trường 4% đến 5%); (2) Trong giai đoạn ngành ngân hàng Việt Nam triển khai nhiều biện pháp để áp dụng các chuẩn mực thông lệ quốc tế theo Basel trong tính toán CAR nên vừa làm giảm tốc độ tăng vốn tự có và vừa làm tăng tốc độ tăng TSCRR so với trước đây, từ đó tác động tiêu cực đến CAR.
Kinh nghiệm tăng vốn của các ngân hàng trên thế giới
Nghiên cứu quá trình tăng vốn của các ngân hàng lớn trên thế giới trong giai đoạn từ 2009 đến 2012, để nâng CAR đáp ứng theo tiêu chuẩn Basel cho thấy: (1) Các ngân hàng sẽ ưu tiên thực hiện tăng vốn tự có hơn là thực hiện giảm tốc độ tăng trưởng tín dụng/tài sản. (2) Trong các giải pháp để tăng vốn, giải pháp tăng vốn từ nguồn lợi nhuận để lại được sử dụng là chính. (3) Trong các giải pháp gia tăng nguồn lợi nhuận để lại để tăng vốn, giải pháp tăng khả năng sinh lời đóng vai trò hạn chế.
Áp lực tăng vốn của các NHTMNN Việt Nam hiện nay có nhiều đặc điểm giống các NHTM tại Hàn Quốc sau khủng hoảng 1997. Khi khủng hoảng tài chính 1997 xảy ra và qua đi, nền kinh tế Hàn Quốc đứng trước áp dụng cải tổ mạnh mẽ và trong đó có cả ngành ngân hàng. Để nâng cao năng lực tài chính cho các NHTMNN, Hàn Quốc xác định việc tăng vốn cho các ngân hàng từ nguồn ngân sách nhà nước là không thể tránh khỏi do nguyên nhân: (i) bất ổn trong hệ thống tài chính có thể châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng trong toàn nền kinh tế và (ii) thực tế là NHTM Hàn Quốc khi đó rất khó để có thể tự thực hiện tăng vốn từ phát hành thêm cổ phần. Kết quả vào cuối năm 1998, Hàn Quốc đã bơm tổng cộng 64 nghìn tỷ uôn (tương đương khoảng 15% GDP) để tái cơ cấu hệ thống tài chính, trong đó một phần hai lượng vốn này dùng để thực hiện tăng vốn cho các ngân hàng. Mục tiêu tăng vốn cho các NHTM Hàn Quốc được xác định là đưa CAR lên mức 10%.
Bên cạnh trường hợp của Hàn Quốc, trường hợp của Mỹ trong khủng hoảng 2008-2009 cũng rất đáng xem xét. Cụ thể trong năm 2008-2009, hàng loạt các ngân hàng đầu tư, công ty bảo hiểm... của Mỹ rơi vào khủng hoảng và đứng trước nguy cơ đổ vỡ. Khi đó Chính phủ Mỹ đã thực hiện các biện pháp để đối phó, trong đó có việc giúp các ngân hàng yếu kém tìm kiếm đối tác để thực hiện sáp nhập. Thường, Chính phủ phải đứng ra xử lý các khoản nợ xấu và bảo lãnh (nếu có thua lỗ trong tương lai) sau khi các ngân hàng mạnh chịu thực hiện sáp nhập các ngân hàng yếu kém. Ví như tháng 3-2008, FED đã phải hỗ trợ 30 tỷ USD cho việc JP Morgan Chase mua lại Bear Stearns để tránh khỏi phá sản; tương tự vào tháng 9-2008 FED cũng phải cho AIG vay 85 tỷ USD trong vòng hai năm để cứu tập đoàn này khỏi phá sản. Đổi lại Chính phủ Mỹ sẽ nắm giữ 79,9% cổ phần của AIG và thay đổi ban lãnh đạo của tập đoàn này.
Trong cả hai trường hợp này, nguồn vốn để hỗ trợ tăng cường năng lực tài chính cho các NHTM gặp khó khăn đều từ ngân sách nhà nước. Nguồn vốn này một mặt giúp các NHTM bị ảnh hưởng nhanh chóng khôi phục hoạt động, mặt khác làm nền tảng giúp các NHTM tiếp tục triển khai các biện pháp tăng vốn khác.
- Các giải pháp cần thực hiện ngay
Thứ nhất, Chính phủ chỉ đạo NHNN và Bộ Tài chính chấp thuận cho các NHTMNN được cân đối và quyết định việc sử dụng nguồn cổ tức các năm để tăng vốn cho năm sau qua hình thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu tùy thuộc vào năng lực tài chính và điều kiện của ngân hàng
Thứ hai, Chính phủ cho phép các NHTMNN sử dụng nguồn thặng dư do giảm tỷ lệ sở hữu của Nhà nước từ bán đầu tư tài chính, bán chiến lược để tạm ứng chi trả cổ tức bằng cổ phiếu để tăng vốn.
Thứ ba, bản thân các NHTMNN cần tăng cường quản lý rủi ro để giảm được chi phí dự phòng rủi ro là khoản mục chi phí rất lớn trong hoạt động kinh doanh, đồng thời cần thực hiện tiết kiệm triệt để chi phí quản lý, nhất là các khoản chi lễ tân, khánh tiết. Mỗi ngân hàng có thể đặt mục tiêu cắt giảm 3% đến 4% chi phí quản lý so với dự toán ngay trong năm 2016.
Thứ tư, đối với các NHTMNN gặp khó khăn về vốn tự có, Chính phủ chỉ đạo NHNN hoàn thiện đề án nâng cao năng lực tài chính tổng thể của khối NHTMNN, qua đó xác định cụ thể kế hoạch, lộ trình tăng vốn đối với khối NHTMNN và đối với từng ngân hàng.
Thứ năm, Chính phủ đẩy mạnh thực hiện cổ phần hóa và giảm bớt tỷ lệ sở hữu của Nhà nước tại các NHTMNN, hiện đang ở mức 65% đến 95%. Giải pháp tăng vốn qua bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài rất có lợi, do nhà đầu tư nước ngoài có tiềm lực tài chính mạnh và nhiều kinh nghiệm quản lý. Mặc dù vậy, việc lựa chọn nhà đầu tư chiến lược nước ngoài còn phụ thuộc vào điều kiện riêng từng ngân hàng, điều kiện thị trường và chính sách của Chính phủ. Do đó giải pháp này cũng khó thực hiện trong điều kiện hiện nay.
Thứ sáu, Chính phủ chỉ đạo các cơ quan nhà nước tạo điều kiện cho các ngân hàng triển khai phương án phát hành cổ phần ra công chúng trong đó cổ đông nhà nước nếu không đủ nguồn lực thì có thể từ chối quyền mua. Khi đó các ngân hàng sẽ chủ động tìm kiếm nhà đầu tư và cổ đông nhỏ lẻ để bán cổ phần, phát hành cổ phần ưu đãi cho người lao động để tăng vốn. Giải pháp này chỉ thuận lợi khi cổ đông hiện hữu có sức mạnh tài chính và không muốn giảm tỷ lệ sở hữu, trong điều kiện thị trường chứng khoán ổn định và phát triển thuận lợi.
Thứ bảy, Chính phủ cho phép các NHTMNN được tạm ứng từ quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp để tăng vốn trong năm 2016.
- Các giải pháp dài hạn
Thứ nhất, các NHTMNN phát hành trái phiếu tăng vốn (được tính vào vốn tự có phần giá trị trái phiếu tối đa bằng 50% vốn cấp 1), đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa hoặc thu hút nhà đầu tư tài chính, đầu tư chiến lược.
Thứ hai, Chính phủ giảm sở hữu tại các NHTMNN về ở mức tối đa 51% đến năm 2018, nhằm tạo điều kiện cho các NHTMNN thu hút thêm vốn từ nhà đầu tư cả trong nước và nước ngoài, từ đó nâng cao năng lực tài chính và tranh thủ tiếp cận công nghệ hiện đại, trình độ quản trị tiên tiến của các nhà đầu tư nước ngoài.
Thứ ba, cần có chiến lược, giải pháp tổng thể để thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu là kênh đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn cho doanh nghiệp, giảm áp lực tăng trưởng tín dụng dài hạn từ NHTM.
Thứ tư, từng bước xây dựng NHNN độc lập nhằm thực hiện chính sách tiền tệ nhất quán, tập trung không bị ảnh hưởng bởi các mục tiêu chính sách tài khóa.
Trần Bắc Hà
Chủ tịch HĐTV Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)