Ðể đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Tái cấu trúc doanh nghiệp Nhà nước, nhìn từ kinh nghiệm của một số nước

Các bài học kinh nghiệm thành công và chưa thành công của các nước trong tái cấu trúc sở hữu, quản lý và quản trị doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là những tham khảo quý báu đối với Việt Nam trong quá trình thực hiện tái cấu trúc hệ thống DNNN.

Có thể thấy, mô hình và chính sách, cơ chế đối với các DNNN rất phong phú, đa dạng, tùy thuộc rất lớn vào chế độ chính trị, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Việc vận dụng vào thực tế Việt Nam không thể dập khuôn, máy móc mà cần có sự chọn lọc và sáng tạo.

Xu hướng tái cấu trúc DNNN ở một số nước

Tái cấu trúc DN ở các nước trên thế giới là hoạt động được diễn ra thường xuyên trong suốt quá trình phát triển của các DN nhằm tìm ra mô hình, phương thức quản trị tốt nhất để tối đa hóa lợi nhuận của DN. Xu hướng tái cấu trúc DNNN ở các nước bắt đầu bằng phương thức tự nâng cao năng lực các DN, thông qua việc cải tổ trong từng DN nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của DN. Việc cải tổ các DNNN theo phương thức này diễn ra khá tập trung trong những năm từ 1970 đến 1980. Tuy nhiên, xu hướng cải tổ này không đạt được kết quả mong muốn, do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ yếu là chưa tách bạch quan hệ sở hữu tài sản và quản lý tài sản.

Xu hướng cấu trúc lại DNNN tiếp theo là tư nhân hóa DNNN, được bắt đầu từ năm 1979 ở Anh, sau đó lan ra các nước OECD và các nước khác. Tư nhân hóa góp phần nâng cao tính cạnh tranh của các DNNN, tính thích ứng với nền kinh tế toàn cầu hóa, và mang hiệu quả lớn trong việc tăng lợi nhuận, hiệu suất đầu tư. Với xu hướng này, phạm vi và quy mô của khu vực DNNN tại các nước phát triển đã giảm đi đáng kể.

Song song với xu hướng tư nhân hóa DNNN, việc chia nhỏ DNNN để giảm sức mạnh độc quyền của các DNNN lớn, chi phối ngành công nghiệp, dịch vụ công cộng trong nền kinh tế cũng được thực hiện ở một số nước. Các DN sau khi được chia nhỏ có thể là các DNNN độc lập, hoặc tư nhân hóa từng bộ phận. Xu hướng này được thực hiện nhiều ở các nước XHCN chuyển sang kinh tế thị trường ở khu vực Ðông Âu như Tiệp Khắc, Liên Xô (trước đây), Ba Lan... Nhìn chung, việc tái cơ cấu các DNNN thông qua tư nhân hóa và chia nhỏ DNNN giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của DN. Các DNNN sau khi tư nhân hóa hoặc chia nhỏ phải chịu áp lực của việc thay đổi quyền sở hữu hoặc quyền quản lý DN nên áp lực về thay đổi công tác quản lý gia tăng, ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả quản lý của DN. Bên cạnh đó, việc tư nhân hóa về cơ bản đã cắt nguồn tài trợ từ nhà nước, gây nhiều áp lực cho DN phải đổi mới để tồn tại và phát triển.

Sau tư nhân hóa và chia nhỏ DNNN, xu hướng tái cấu trúc DNNN gần đây đang được nhiều quốc gia tiếp tục thực thi là tái cấu trúc từng DNNN về tài chính, quản trị, và chiến lược phát triển kinh doanh. Tái cấu trúc DNNN thường hướng vào phân bổ lại các nguồn lực nhằm đem lại lợi ích cao nhất có thể cho nền kinh tế - xã hội. Việc tái cấu trúc từng DN này trước hết tập trung vào tái cấu trúc tài chính. Ðây là hoạt động cấu trúc lại tài sản, cấu trúc nguồn vốn của một DNNN, bảo đảm việc phân bổ vốn cho các hoạt động một cách hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả của đồng vốn được sử dụng. Tái cấu trúc quản lý bao gồm các hoạt động cấu trúc lại quan hệ về sở hữu tài sản và quản lý DN, bộ máy quản lý và nhân sự DN.

Bài học đối với Việt Nam

Từ kinh nghiệm của các nước, có thể rút ra một số bài học cơ bản như sau:

Thứ nhất, Nhà nước phải duy trì vốn trong các DN để thực hiện chức năng của mình trong việc ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm dịch vụ công, tạo điều kiện cho các khu vực kinh tế khác phát triển.

Thứ hai, Nhà nước chỉ đầu tư vốn vào các DN hoạt động trong các lĩnh vực, ngành quan trọng có ý nghĩa then chốt của nền kinh tế quốc dân, chủ yếu thuộc các chuyên ngành kinh tế, kỹ thuật liên quan đến kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, bảo đảm cân đối lớn (tiền tệ, điện, lương thực, giao thông, vận tải hàng không, đường sắt, viễn thông, dầu khí, xăng, dầu, khai thác tài nguyên khoáng sản, xây lắp); ngành độc quyền tự nhiên (sản xuất hóa chất độc, phóng xạ...); dịch vụ công; ổn định kinh tế vĩ mô và quốc phòng, an ninh và trên một số địa bàn quan trọng; những ngành, địa bàn khu vực tư nhân không có khả năng làm do nhu cầu vốn lớn, thời gian thu hồi vốn chậm, hiệu quả thấp.

Thứ ba, phân định rõ và tách bạch chức năng quyền hạn của đại diện chủ sở hữu vốn và pháp nhân DN. Nhà nước là chủ sở hữu đầu tư vốn vào DN không can thiệp vào hoạt động kinh doanh của DN. Nhà nước thực hiện chức năng giám sát hoạt động của DN thông qua các chỉ tiêu hiệu quả/hoạt động (bao gồm chỉ tiêu kế hoạch và tình hình thực hiện các chỉ tiêu này); chịu trách nhiệm về nghĩa vụ nợ và tài sản trong phạm vi số vốn đầu tư vào DN. DN chịu trách nhiệm về nợ và nghĩa vụ tài sản khác bằng toàn bộ tài sản; có trách nhiệm bảo toàn vốn chủ sở hữu và làm gia tăng vốn chủ sở hữu. DN có trách nhiệm cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời.

Thứ tư, Nhà nước có thể đầu tư nắm giữ 100% vốn nhà nước tại DN hoặc chỉ đầu tư góp vốn hoặc mua cổ phần chi phối hoặc không chi phối. Trường hợp nhà nước nắm giữ 100% vốn thì Nhà nước sẽ thực hiện quyền kiểm soát DN chặt chẽ hơn như: Quyết định thành lập, mục tiêu, nhiệm vụ và định hướng phát triển của DN; Bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo của DN. Trong đó, HÐQT là cơ quan đại diện chủ sở hữu thực hiện chức năng quản trị DN, bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu nhà nước và giám sát bộ máy điều hành. Do đó, chủ sở hữu (Chính phủ) là người bổ nhiệm HÐQT; giám đốc là người tổ chức, điều hành DN theo sự chỉ đạo của HÐQT, chịu sự giám sát của HÐQT. Vì vậy việc tuyển chọn, bổ nhiệm hoặc thuê hợp đồng do HÐQT thực hiện. Tuy nhiên, một số nước việc bổ nhiệm giám đốc có thể vẫn do chủ sở hữu (Chính phủ) bổ nhiệm.

Ðối với DN có một phần vốn nhà nước, quyền của đại diện chủ sở hữu nhà nước cũng như quyền của cổ đông hoặc người có vốn góp khác sẽ tùy thuộc vào mức độ đầu tư góp vốn vào DN.

Trường hợp Nhà nước có vốn góp, cổ phần chi phối hoặc có quyền chi phối theo sự thỏa thuận khác, Nhà nước thông qua đại diện của sở hữu nhà nước sẽ thực hiện kiểm soát hoạt động của DN nhằm bảo đảm hoạt động của DN theo đúng mục tiêu đã được ghi tại điều lệ DN.

Thứ năm, giám sát của chủ sở hữu (Chính phủ) đối với DN nói chung được tập trung vào đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu. Việc giám sát, đánh giá hoạt động của DN và sử dụng vốn nhà nước tại DN được thực hiện bằng nhiều hình thức, phương pháp khác nhau. Các DN phải có nghĩa vụ công khai và cung cấp các thông tin phục vụ cho các hoạt động giám sát của chủ sở hữu.

Thứ sáu, mô hình tổ chức thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại DN rất đa dạng. Trên thực tế, mô hình tổ chức ở mỗi nước có sự khác biệt tùy theo điều kiện và mức độ phát triển và mục tiêu cần đạt được của mỗi nước. Tuy mô hình tổ chức có khác nhau, song cho đến nay có ba mô hình chính:

Mô hình thứ nhất: Giao cho một hoặc một số cơ quan nhà nước thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại DN; cơ quan này có thể là cơ quan lập pháp (Quốc hội) và cơ quan hành pháp (bộ, ngành) tùy điều kiện mỗi nước. Mô hình này có ưu điểm là bộ, chính quyền địa phương chủ động được việc định hướng hoạt động và chi phối các chính sách hoạt động của DN hoặc có các biện pháp kịp thời để hỗ trợ DN khi có khó khăn.

Mô hình thứ hai: Thành lập một hoặc một số tổ chức dưới dạng các quỹ đầu tư tài chính làm chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước đầu tư vào DN và hoạt động theo mô hình DN (Tập đoàn Tamasek của Xin-ga-po...).

Mô hình thứ ba: Kết hợp cả hai mô hình trên trong việc thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại DN (như ở Hung-ga-ri). Theo đó, Nhà nước có thể vừa thành lập một cơ quan quản lý thuộc bộ máy quản lý nhà nước, vừa giao cho một tổ chức hoạt động theo mô hình DN để thực hiện chức năng đầu tư vốn và giám sát hoạt động DN có vốn đầu tư nhà nước.

Thứ bảy, về quản trị, nhiều nước vận dụng các nguyên tắc quản trị tốt của OECD vào quản trị các DNNN. Thể chế hóa ở mức cao nhất về quản trị công ty với những nội dung: Cung cấp thông tin tin cậy và minh bạch hóa thông tin về hoạt động của DNNN ra công chúng; Nâng cao trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của HÐQT; Xây dựng quy chế quản trị nội bộ, thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ.

PGS,TS HOÀNG TRẦN HẬU

(Học viện Tài chính)

Có thể bạn quan tâm