Văn hóa và phát triển

Sức sống trên rừng đá Tân Sơn

Xã Tân Sơn (huyện Chợ Mới, Bắc Cạn) nằm trên vùng núi đá trập trùng, có độ cao từ 500 đến 900 mét so với mực nước biển và Khau Da là đỉnh cao nhất với 987,2 mét. Xa xưa, ở Tân Sơn đã có địa danh Lũng Vàng - Lủng Kim, Thác Bạc, vậy mà nhiều năm trước, đồng bào Dao sống nơi đây vẫn đói nghèo. Từ khi có Ðảng, có công cuộc đổi mới, cuộc sống của người dân mới hoàn toàn khác xưa...

Tôi muốn gọi vùng núi đá này là rừng đá, bởi núi đá ở đây vút cao, lởm chởm những vách đá trắng toát và khe sâu thăm thẳm. Nhưng dọc các chân và cả trên đỉnh núi, đâu cũng có rừng cây xanh tốt, không trọc trơ như ở Ðồng Văn, Mèo Vạc - Hà Giang hay Lục Khu - Cao Bằng. Rừng Tân Sơn vốn đã nổi tiếng với nhiều loài gỗ quý như nghiến, lát, đinh, nhất là sao - một loại gỗ giỏi chịu nắng mưa, khó mục, lâu khô, có nhựa đắng, dùng để đóng tàu thuyền. Cũng có thể dùng gỗ sao để làm đồ mỹ nghệ, vì gỗ cây sao già có 'vân chun' rất đẹp. Tân Sơn có 6.272 ha đất tự nhiên, nhưng chỉ có 48 ha ruộng và chỉ cấy lúa một vụ từ tháng 5 đến tháng 8. Qua đó cho thấy tiềm năng thế mạnh của Tân Sơn chỉ có rừng và đá!

Ðất ít hơn đá, cho nên ở Tân Sơn lúc nào trời đất cũng khô như rang. Nhưng mỗi khi mưa xuống là lũ ống, lũ quét làm xói lở ruộng, đồng, nương rẫy, đẩy ngô lúa xuống suối, xuống khe. Rừng bị đóng cửa, gỗ không được khai thác. Người dân đi tìm vỏ đỏ, cây dược liệu để bán, đào củ mài ăn trong những tháng giáp hạt. Từ tình cảnh ấy, mà trong vùng hình thành câu thành ngữ xót xa: 'Khóc ra tiếng Mán' (Dao)! Khi hợp tác xã nông nghiệp giải thể, bát cơm nhà nào nhà nấy tự lo. Dân bung ra phát rẫy khắp nơi, tìm mọi chỗ có thể khai phá thành ruộng để làm, bất kể rừng già, nương ót. Một số cánh rừng gỗ quý đã bị phá. Rừng gỗ sao hàng trăm năm tuổi trên Lũng Tao cũng bị chặt hạ, đốt cháy cả tháng để làm rẫy trồng ngô, lúa. Bao năm liền, những tốp người lưng đeo túi vải, dao quắm, búa sắc lặng lẽ leo lên dốc, lên rừng tìm nguồn sống. Sau đó là những khu rẫy, khu ruộng hình thành ở lưng chừng núi gọi là 'ruộng treo', tận dụng nước mùa mưa cấy một vụ. Cuộc sống đi lên leo núi, đi về vượt khe cứ thế trôi đi như những câu Pá Dung buồn mà ông cha người Dao để lại. Trên chỉ đạo, dưới bàn bạc mà cấp ủy và chính quyền xã vẫn không sao tìm ra lối thoát nghèo cho dân. Ðường vào xã, xuống thôn mới thật khổ sở. Vào trung tâm Tân Sơn cách đây chục năm chỉ một lối mòn men theo suối, mùa nóng cũng như mùa lạnh lúc đi trên đá, lúc lội dưới nước. Qua năm cây số Khuổi Ðeng đến trung tâm xã thì chân trắng nhợt, người mỏi rời. Từ trung tâm xã tới Nà Khu, Phja Rạ, Nặm Dất, Lũng Toòng, Bản Lù còn vất vả hơn nhiều. Trên đường từ Khuổi Ðeng đi Nà Khu, ai đi qua cũng phải nhìn ngắm một khóm tre nghẹ ở Phja Tẳng. Khóm tre nghẹ gốc mọc trên vách đá, đổ nghiêng xuống khoảng 50 đến 60o nhưng không rơi, bám chắc vào núi đã gần trăm năm. Từ đốt thân của khóm nghẹ già đổ nghiêng ấy, những cây nghẹ non nối nhau mọc lên thành khóm giữa chơi vơi trời núi. Mùa đông khóm nghẹ trút sạch lá nhìn như đã khô, nhưng mùa xuân lá non lại mọc nhanh ra để đợi mưa mùa hạ mà xanh tốt. Cư dân trong vùng thường đến đây lấy nghẹ già về làm đòn gánh, vì cây chắc và dẻo. Khóm nghẹ ấy đã làm nảy sinh bao suy tưởng buồn vui cho con người. Người thì bảo khóm nghẹ như mái tóc dài bay trong gió núi. Người bảo khóm nghẹ như người đang ngã xuống vẫn cố ngẩng cao đầu, vươn lên để tồn tại. Tôi tâm đắc với ví von này, bởi khóm nghẹ như là biểu tượng cho sức sống mãnh liệt của người Dao ở Tân Sơn, nghĩa là họ biết ngẩng cao đầu không để đói nghèo và rừng đá khuất phục.

Từ ngày tỉnh Bắc Cạn được tái lập  (năm 1997), cùng với sự chỉ đạo sát sao của tỉnh, huyện, sự trợ giúp từ các chương trình, dự án khuyến nông, khuyến lâm như trồng rừng đầu nguồn, phủ xanh đất trống đồi núi trọc. Có gạo rồi có tiền hỗ trợ, người Dao ở Tân Sơn đã cùng nhau trồng cây trên những đồi núi trọc do chính mình phát nương làm rẫy trong những năm trước, tự tay vá lại những bộ quần áo bị gai xé rách nham nhở. Khuổi Ðeng trồng cây mỡ, cây keo lai. Nặm Dất, Bản Lù trồng xoan, trồng sao. Cả xã trồng hơn 300 ha trúc sào, trúc cần câu, đến nay hơn 200 ha đã được khai thác. Với giá bán 6.000 đồng một cây trúc sào, 1.400 đồng một cây trúc cần câu, mỗi năm cả xã thu gần 100 triệu đồng từ trúc và lâm sản khác. Các giống lúa lai, lúa cạn, ngô lai cùng với kỹ thuật mới qua các lớp tập huấn, đã đem lại năng suất cao cho ruộng rẫy. Nổi trội là các giống ngô lai ngắn ngày vừa giúp tăng vụ, vừa cho sản lượng cao. Cả xã hằng năm trồng hơn hai tấn ngô giống, mỗi nhà đều trồng từ năm đến mười kg giống cho thu hoạch hằng năm của cả xã chừng 240 tấn ngô hạt. Ngô ở Tân Sơn, lúc non thì bán làm ngô luộc, ngô nướng; ngô già thì dùng để chăn nuôi hàng nghìn con gia cầm và hàng trăm con gia súc. Tuy ruộng ít, nhưng năng suất cao, cho nên nhà nào có ruộng là đủ ăn quanh năm. Nhà không có ruộng hay ít ruộng thì tìm cách khác, không chỉ để xóa đói, giảm nghèo mà còn phát triển và làm giàu. Bà con trồng các loại cây ngắn ngày như lạc, đỗ tương, các loại rau củ quả như bí, đu đủ, khoai nương, su su,... trồng các loại cây ăn quả như mơ, mận, xoài, vải, nhãn với hàng nghìn gốc. Năm 2002, Tân Sơn có điện lưới quốc gia, năm 2008 Tân Sơn có năm km đường nhựa vào trung tâm xã. Ðường từ trung tâm xã đến năm trong sáu thôn được Nhà nước đầu tư mở rộng. Có điện, có đường, cuộc sống nhanh chóng đổi thay.

Và chính trong những năm tháng cùng nhau vươn lên ấy, tổ chức Ðảng ở cơ sở đã phát huy được vai trò; vừa tìm ra phương cách xây dựng cuộc sống phù hợp với điều kiện riêng, vừa quan tâm đến công tác xây dựng Ðảng cả về chất lượng và số lượng. Tới năm 2011 này, toàn xã đã không còn thôn 'trắng đảng viên', hằng năm các chi bộ đều kết nạp một đến hai đảng viên trẻ. Bảy chi bộ trong xã thật sự là đội ngũ hạt nhân đi đầu trong phong trào sản xuất, giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội. Cuộc vận động 'Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh' đã được quán triệt, học tập, kiểm điểm từ mỗi chi bộ đến từng đảng viên. Mọi đảng viên đều ý thức nghiêm túc vai trò của mình, gương mẫu trong sản xuất, là hạt nhân đoàn kết các dân tộc. Theo như đồng chí Thanh, Bí thư Ðảng ủy xã cho biết thì: 'Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của Tân Sơn những năm trước mắt vẫn là phát triển cây trúc sào lên 275 ha, giữ vững diện tích trồng rừng 75 ha. Ổn định bình quân lương thực 475 kg/người, đưa đời sống mọi mặt phát triển bền vững. Ðặc biệt là giữ vững môi trường sinh thái, bảo vệ rừng và nguồn nước. Về lâu dài sẽ nghĩ tới những nguồn lợi từ đá vôi với hàng tỷ mét khối. Tiếp tục phấn đấu, cải thiện cơ sở hạ tầng, nhất là đường và điện ở một số bản hẻo lánh'.

Ở Tân Sơn, điện - đường không chỉ tạo sự thuận lợi cho sinh hoạt, mà còn thôi thúc cách nghĩ làm giàu từ sản xuất hàng hóa. Ði đầu trong cách nghĩ ấy là vợ chồng bà Trần Thị Bê và ông Bàn Văn Minh ở Khuổi Ðeng. Câu chuyện làm giàu cho bản thân gia đình và giúp bà con trong xã cùng làm giàu của vợ chồng bà Bê quả là kỳ tích và cảm động. Bà Bê cùng với bốn người bạn gái quê ở Thái Bình, năm 1977 lên Tân Sơn làm đường, rồi cả năm chị em ở lại Tân Sơn và đều lấy chồng là người Dao. Vì thế phải đối mặt với bao khó khăn trên đất quê chồng, lạ lùng từ lời ăn tiếng nói đến tập quán sản xuất. Dù mất nhiều nước mắt cho con đường đã chọn, nhưng vì chồng con, không ai trong số họ lùi bước. Năm chị em bàn nhau tìm cách cải thiện cuộc sống gia đình. Mỗi ngày đi làm nương, bà Bê thử trồng một loại cây ngoài lúa và ngô, như dong riềng, bí đỏ, mơ, mận, vải, đu đủ, nhãn... Cây trồng thử đều rất tốt, nhưng khi thu hoạch lại không có đường để đem đi bán. Hơn nữa số lượng ít, cho nên chưa thành loại hàng hóa đủ sức thu hút khách đến mua. Suy tính và cân nhắc, bà Bê quyết định vận động chị em trồng gừng. Rồi gừng lên tốt, chứng tỏ rất phù hợp với đất núi đá Tân Sơn. Thu hoạch gừng vụ đầu tiên, bà Bê đem đi Hà Nội, Hà Ðông bán thử, được giá cao. Tìm được nơi tiêu thụ, bà trở về vận động họ hàng, bạn bè trồng gừng. Từ năm 1996 đến nay, người Dao ở Tân Sơn đã chọn cây gừng là cây chủ lực để xóa đói, giảm nghèo. Gia đình bà Bê trở thành đầu mối cung cấp gừng giống, cho vay vốn để trồng gừng, mua ngựa làm phương tiện vận chuyển; lại còn đứng ra thu mua chuyển về xuôi bán cho xí nghiệp chế biến ở Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Ðông... Từ đó, gừng Tân Sơn đã xuất khẩu đi Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản... Hơn chục năm trồng gừng, gia đình bà Bê và đồng bào Dao nơi đây đã trải bao thăng trầm. Ðược giá thì không sao, lúc mất giá bà con bán đổ vào nhà bà Bê vì bà vận động trồng. Năm mưa nhiều gừng thối, một số nhà mất hết cả giống lẫn vốn. Năm giá gừng rớt xuống chỉ còn 2.000 đến 3.000đ/kg, thì người trồng gừng chỉ biết nhìn nhau ngao ngán vì cảnh 'gừng cay muối mặn'. Nhờ trải qua thăng trầm mà kinh nghiệm được tích lũy. Ðến nay, diện tích 75 ha gừng cho năng suất bình quân 30 tạ/ha, mỗi năm Tân Sơn thu hoạch hơn 2.000 tấn. Với giá trung bình 15 nghìn đồng/kg, người Dao Tân Sơn có thu nhập hơn 30 tỷ đồng. Ông Bàn Văn Minh còn vận động bà con trồng chuối tây. Ông đứng ra cung cấp cây con, ứng vốn, hướng dẫn kỹ thuật trồng, tổ chức thu mua chuối quả. Từ năm 2008 tới nay, mỗi năm ông thu mua hơn 100 tấn chuối, đem lại thu nhập cho người trồng 400 đến 500 triệu đồng/năm.

Cùng với các thu nhập khác từ trồng rừng và chăn nuôi, cuộc sống của cả xã nhanh chóng thoát nghèo theo tiêu chí 400 nghìn đồng/khẩu/tháng. Một số hộ đã đầu tư vốn mua ruộng rẫy ở các xã chung quanh để làm ruộng và trồng rừng. Toàn xã hiện có hơn chục gia đình mua được xe vận tải, nhiều nhà có máy xay xát nhỏ, máy cày tay và các máy công cụ khác. Rồi các 'phố làng' ở Tân Sơn hình thành tự phát, với các dịch vụ mua bán nông sản, ăn uống vui chơi. Có vốn, hơn 20 hộ đã đầu tư nuôi nhím, mỗi đôi nhím giống bán được từ 15 đến 40 triệu đồng. Cả xã có hơn 20 ngôi nhà hai tầng, hàng trăm ngôi nhà xây cấp bốn, hoặc làm bằng gỗ chắc chắn. Nơi có đường thì 100% số gia đình mua từ một tới vài xe máy. Có điện thì có tủ lạnh, có bếp điện, bếp gas. 100% số hộ có phương tiện nghe nhìn hiện đại, rồi điện thoại cố định, v.v. Ðáng nói là tiếng Dao đã lên sóng điện thoại di động, nối liền được các khoảng cách xa gần của núi non hiểm trở.

Nhờ Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng, điện, đường, trường, trạm, nhờ kinh tế phát triển vững chắc, cho nên đời sống mọi mặt ở Tân Sơn đã phát triển đồng đều, nhất là việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực. Cả xã đã và đang có 11 người theo học đại học chính quy, có người học xong đã trở về làm cán bộ xã. Em Triệu Thị Ngoan ở Phja Rạ nay đang là sinh viên Khoa Quản trị kinh doanh Trường đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội. Một số thanh niên đã đi xa gần học nghề. 100% số trẻ em trong độ tuổi được đi học ở các cấp học. Xã đã có trường trung học cơ sở, tiểu học và các phân trường tiểu học, mẫu giáo ở tất cả các thôn. Trạm y tế xã có khả năng giải quyết khám, chữa bệnh, phòng bệnh tại chỗ cho nhân dân...

Tân Sơn bây giờ mới thật là 'núi mới'. Trên rừng đá nhấp nhô, đồng bào Dao đỏ nơi đây đã có một cuộc sống mới ổn định, phát triển. Nhìn vào bản đồ địa chính của xã, dễ hình dung Tân Sơn như một 'nhánh gừng lớn' được cắm xuống đất để đợi mưa xuân. Rừng và gừng đã và sẽ giúp Tân Sơn vươn lên trên con đường giàu có, ấm no và hạnh phúc. Ở Tân Sơn ngày đầu năm 2011, những ngôi nhà mới đang được hoàn thành để đón Tết Tân Mão. Cũng lúc này, hàng nghìn gốc mơ ở Khuổi Ðeng đã nở hoa trắng xóa như đón chào cuộc đời mới trên rừng đá mênh mông. Và khóm nghẹ ở Phja Tẳng đã lại nảy mầm, như tượng trưng cho sức sống mãnh liệt của người Dao trên rừng đáTân Sơn.

Có thể bạn quan tâm