"Sử thi Đăm Duông" - Cần những biện pháp bảo tồn và phát huy mạnh mẽ hơn

Nghệ nhân A Ar ở làng
Kon Gur, xã Ngọc Wang.
Nghệ nhân A Ar ở làng Kon Gur, xã Ngọc Wang.

Chúng tôi vượt hàng chục cây số gập ghềnh, đến làng Kon Gur, xã Ngọc Wang, huyện Đăk Hà (Kon Tum) để tìm gặp nghệ nhân A Ar (người dân tộc Kơ Dŏng Sơ Rá).

Cho đến thời điểm này, A Ar là nghệ nhân duy nhất ở Kon Tum, thuộc khá nhiều tác phẩm Sử thi Đăm Duông. Không những thuộc, hát rất hay thể loại văn hóa này, ông còn có khả năng ngồi hát thâu đêm, suốt sáng để phục vụ bà con trong làng.

Sử thi Đăm Duông là một thể loại văn hóa đặc sắc của người Xê Đăng, được phát hiện vào năm 2001, tại làng Kon Gur, xã Ngọc Wang, huyện Đăk Hà. Sử thi Đăm Duông hiện có tất cả 30 chỉnh thể độc lập, mang tính lô gích cao.

Trò chuyện với chúng tôi, anh A Tuất, sinh năm 1965, con rể của nghệ nhân A Ar (người nói rất sõi tiếng Kinh) cho biết: Nội dung của Sử thi kể về mọi hoạt động trong cuộc sống của một nhân vật có tên là Đuông, một chàng thanh niên to khỏe, đẹp trai, có đầu óc thông minh và tính sáng tạo, đại diện cho người Tây Nguyên dám chiến đấu với quỷ dữ, thần linh và kẻ ác để bảo vệ cuộc sống cho buôn làng. Mọi sinh hoạt như: Lấy vợ, sinh con, làm nô lệ, đi lính cho vua v.v.. cũng được thể hiện rất cụ thể, sống động trong từng tác phẩm. Những câu chuyện đó rất đỗi thân thương, gần gũi đối với cuộc sống của người Xê Đăng như: Đuông đi lính, Đuông kiếm vợ, Đuông lấy vợ trên trời, Đuông làm nhà Rông, Đuông làm ăn v.v..

Hiện nay, tuy đã vào tuổi "Thất thập cổ lai hy" (sinh năm 1935) nhưng nghệ nhân A Ar còn nhớ và hát được tổng cộng 98 tác phẩm. Tác phẩm dài nhất thu hết 11 băng, ngắn nhất 4 băng (loại 90 phút). Anh A Tuất còn cho biết: Hiện nay, người Xê Đăng ở Kon Tum chỉ còn lại duy nhất A Ar và A Ri là hai người biết hát Sử thi Đăm Duông. Nhưng ngay cả nghệ nhân A Ar vào thời điểm này cũng rất ít hát do sức khỏe và trí nhớ có phần giảm sút, nếu có ai thực sự thích nghe và yêu cầu thì ông mới chiều lòng.

Nghệ nhân A Ar kể: Ngày trước, lúc 15 tuổi ông thường xuyên chăm chú lắng nghe từng câu, từng bài do ông A Mruông hát (A Mruông là ông nội của A Ar). Cũng do tích cực chăm chú lắng nghe như vậy nên đến nay ông thuộc tổng cộng 98 tác phẩm Sử thi Đăm Duông. A Ar còn cho biết: Kể từ năm 1982 cho đến nay, ông ít hát Sử thi Đăm Duông. Ngày trước, cứ cách vài tối bà con trong thôn lại kéo nhau đến chật nhà ông. Họ tập trung theo dõi, chăm chú lắng nghe ông hát. Bắt đầu từ lúc ông mặt trời khuất sau ngọn núi, kéo dài cho đến khi con gà đã gáy đầu nương, bà con mới rủ nhau trở về nhà đi ngủ. Nhiều hôm, họ yêu cầu ông hát cho đến khi ông mặt trời lấp ló đằng tây.

- Sao nghệ nhân không tiếp tục hát cho dân làng mình nghe nữa? - Tôi hỏi.

Thoáng chút buồn trên gương mặt già cỗi, đen sạm nắng gió Tây Nguyên, A Ar bảo: Buôn làng ông đã đổi mới rồi, mọi người mua sắm được ti-vi, đầu đĩa, điện thắp sáng đến từng nhà nên họ chỉ xem phim thôi, không đứa nào chịu nghe ông hát nữa. Cũng từ đó, cứ mỗi khi buồn A Ar lại ngồi một mình hát Sử thi Đăm Duông cho khuây khỏa trong lòng...

Ngay sau khi được phát hiện, Phó giáo sư, tiến sĩ Võ Quang Trọng-Phó Viện trưởng Viện Văn hóa Dân gian, đã cất công từ Thủ đô Hà Nội mang theo máy ghi âm và hơn 100 cuộn băng cassette (loại 90 phút) vào Kon Tum để ghi âm Sử thi này. Chưa hết, Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Dân gian đã cử đích thân Giáo sư Ngô Đức Thịnh làm chủ biên để tiến hành nghiên cứu. Cuối cùng họ đã đi đến kết luận Sử thi Đăm Duông hiện đang là thể loại có giá trị bậc nhất tại Tây Nguyên. 

Được biết, đầu năm 2004 vừa qua, tại Kon Tum, dự án sưu tầm, biên dịch, lưu giữ và mở các lớp học Sử thi được triển khai. Trong đó, kinh phí cho việc mở các lớp học này cũng ngót nghét trên 100 triệu đồng. Dự án được kéo dài trong một năm, trong khi tham gia học mỗi học viên được hỗ trợ 10 ngàn đồng/ngày. Qua tìm hiểu với ông A Ri ("thầy giáo" trực tiếp giảng dạy lớp học) chúng tôi được biết: Lớp học của "Thầy" chỉ duy trì được một thời gian chưa đầy một tháng, do học viên không nhận được tiền hỗ trợ, họ phải lên nương rẫy để tìm cái ăn đảm bảo cho cuộc sống  của mình. Bất kể ai trong số học viên cũng phải buồn lòng nhìn lớp học "giải tán"... 

Khi trao đổi với chúng tôi vấn đề này, nghệ nhân A Ar, A Ri, thôn trưởng A Tôn và anh A Tuất, cũng như các học viên "gác bút" giữa chừng, mọi người đều có chung một tâm trạng như nhau. Họ buồn cho Sử thi Đăm Duông không được quan tâm đúng mức. Buồn cho "Chàng Đuông" sẽ không còn trong trí nhớ của bà con Xê Đăng các thế hệ sau này. Những quan tâm của Viện Văn hóa Dân gian, Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Dân gian, phải chăng đó chỉ là "cơn mưa rào" trong chốc lát, làm mát Sử thi chứ chưa đem lại hiệu quả thiết thực và lâu dài. 

Khi được trò chuyện với những con người vốn "quý trọng" văn hóa Dân gian như nghệ nhân A Ar, A Ri, thôn trưởng A Tôn và anh A Tuất, cũng như các học viên đang "gác bút" giữa chừng, lòng chúng tôi nặng trĩu một nỗi buồn. Việc Sử thi Đăm Duông sẽ đi vào quên lãng khi A Ar, A Ri trở thành người "thiên cổ" sẽ chỉ là vấn đề thời gian. Việc người Xê Đăng muôn đời sau không còn biết gì về Sử thi Đăm Duông sẽ trở thành hiện thực khi các cấp, các ngành chưa ra tay cứu lấy Sử thi. Người viết bài này mong rằng ngành Văn hóa-Thông tin các cấp sớm tìm ra biện pháp hữu hiệu, để góp phần giữ lại trong kho tàng Văn hóa Dân gian Việt Nam thể loại Sử thi này.

Có thể bạn quan tâm